Chiến dịch miền Tây.

 

Hồi ký

Phạm Hữu Huê

 

Chắc chắn nhiều anh em còn thắc mắc và muốn tìm hiểu về mục đích và thành quả của chiến dịch miền Tây mà khóa 4 SVSQCTCTHD đảm trách vào giữa năm 1974. Để có tầm nhìn một cách khá rõ rang bài viết dưới đây sẽ biết rõ thêm ít nhiều về một công tác mà nhìn chung là một chuyến đi đầy thử thách đối với một SVSQ còn thụ huấn ở quân trường.
Sau Hiệp Định Paris, vấn đề Việt Nam hóa chiến tranh đã đưa quân đội VNCH tới một vai trò chủ lực trong nhiệm vụ chống CSBV và bảo vệ miền Nam. Quân viện cắt giảm từ từ trong khi Cộng Sản leo thang chiến tranh đến mức tối đa. Quốc Hội Hoa Kỳ bị áp lực mạnh của phe phản chiến, hoài nghi về thực lực của quân dân miền Nam trong công cuộc chiến đấu chống Cộng Sản. Mặt khác, phong trào tham nhũng phát triển mạnh mẽ trong khi chiến trường đang hồi khốc liệt đã làm bối cảnh chính trị miền Nam ít thuận lợi trước quốc tế.
Từ những vấn đề khách quan trên, Phòng 6/BTTM/QLVNCH ban hành chiến dịch Cải Tiến Hiệu Năng Đơn Vị và đặc biệt giao phó trọng trách này cho trường ĐH/CTCT/ĐL đảm trách. Khóa 4/SVSQ/CTCT nhận lãnh trách nhiệm này, mục đích đi vào từng đơn vị diện địa để tổ chức học tập chính sách, chủ trương, đường lối quốc gia, vun đắp lập trường người chiến sĩ chống Cộng, đồng thời nắm rõ tình hình thực tế về nhân sự, quân số tham chiến, tiếp vận, quân nhu và đời sống ngoài đơn vị trên khắp vùng lãnh thổ Quân Khu IV. Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ-Trưởng phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đặc trách phổ biến kế hoạch và ưu tiên giao phó cho một đội ngũ đầy tinh hoa và nhuệ khí để thi hành. Đó là lực lượng SVSQ/CTCT/Đà Lạt.
Tháng 6 năm 1974.
Những chiếc phi cơ vận tải khổng lồ C130 gầm rú một hồi rồi cất cánh nhẹ nhàng lên bầu trời. Cam Ly Đà Lạt bắt đầu xa mờ. Nhìn qua cửa hông, bên dưới là những đồi thông trãi dài theo những con đường chập chùng uốn lượn quanh co. Mỗi anh em chúng tôi đều cố quay nhìn để thấy cho được ngôi trường thân yêu mà chúng tôi đang xa dần cảnh sống quen thuộc từ mấy năm qua. Sáng thể dục, trưa giảng đường, chiều thể lực, tối phòng thủ. Khóa 5 đàn em đang đảm trách tất cả những gì đàn anh để lại. Phi cơ chuyển hướng quay nhẹ một vòng, tôi thoáng nhìn thấy sân vận động Hoa Lư nằm thoai thoải dưới chân đồi của ngôi giáo đường có chiếc tháp cao và nhọn nơi sân bong này, đã có những trận thi đấu, lòng không mấy vui khi nghĩ đến người bạn đồng khóa Vũ Quý Ngọc đang ở lại vì nằm bệnh viện. Ngọc là cầu thủ xuất sắc, tiền vệ phải đã bị gãy xương ống đùi khi bị một đấu thủ của đội banh bạn chơi xấu bằng cú đá Yoko lén khi Ngọc lien tiếp làm bàn và tạo tỉ số quá chênh lệch. Ở lại trường còn có Nguyễn Văn Hân, Nguyễn Tiến Đạt đang điều trị tại bệnh viện vì bệnh nặng.
Nhận lệnh lên đường đi chiến dịch, mỗi anh em khóa 4 như những con chim sổ lồng để tung ra những đôi cánh vào cánh rừng xanh đầy thử thách. Đầu năm 1973, khi vừa gắn chiếc alpha trên ve áo thì có lệnh lên đường ra Quãng Ngãi cùng với các đàn anh Khóa 3 để nói về Bản Văn Hiệp Định Paris. Qua hai đợt chiến dịch, dấu chân SVSQ/CTCT in khắp các địa danh như Sơn Hà, Ba Tơ, Trà Bồng, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Nghĩa Hành, Bình Sơn, Sơn Tịnh. Khi đặt chân trở lại trường thì tiếp nhận trường mới và thực tập để tham dự diễn hành ngày Quân Lực 19/6/1973 tại Sài Gòn và sau đó tiếp nhận khóa đàn em: Khóa 5/SVSQ, cách nhau 1 năm.
Chìm trong tiếng động cơ của con tàu ,anh em miên man với những gì sắp đến. Quân trường với đầy kỷ niệm đang nhạt nhòa đàng sau. Gần hai năm tôi luyện, bây giờ chỉ còn cây súng, bal lô, nón sắt và một khối óc để đương đầu với nhiệm vụ trước mắt của chiến dịch miền Tây. Nhìn anh em tư lự, lim dim đôi mắt tìm một giấc ngủ để cố quên những gì vương vấn, tôi thấy cũng có nhiều anh em rộn ràng mơ ước những gì sắp đến, trước nhất là sẽ ghé lại Sài Gòn, thành phố hoa lệ này luôn luôn hấp dẫn, lôi cuốn…
Chúng tôi được trở lại thành phố này trong màu áo trận của 48 giờ phép thăm thân nhân và tung nhịp chân khắp thành phố. Ai cũng cố tận hưởng tất cả những dư âm của một hậu phương êm đềm bên lề những sôi động của chiến tranh. Khi trở lại đơn vị trại lê Văn Duyệt để tập huấn và học tập chủ trương đường lối của chiến dịch, chúng tôi được dịp tiếp xúc với các cán bộ chính huấn trung ương và được nghe những bài chiến đấu ca. Những bài quân ca thật đanh thép, hùng hồn và hết sức lôi cuốn. Mỗi lần nghe xong ,ai cũng thẫn thờ vì những xúc cảm quá mạnh. Chúng tôi tự hỏi với sức lôi cuốn này, tại sao không phổ biến thường xuyên và rộng rãi trên các đài phát thanh để nâng cao tinh thần chiến sĩ mà để những bản nhạc tình cảm ướt át tạo ảnh hưởng bi lụy, yếm thế đến người chiến sĩ đang ngày đêm xông pha chống quân thù nơi chiến trường…
Giặc miền Bắc vô đây bàn tay nhuốm máu đồng bào
Giặc miền Bắc vô đây bàn tay nhuốm máu hôi tanh
Giặc thù đó xâm lăng, giặc thù đó hận thù
Giặc thù đó giết hại dân lành, đốt phá quê hương
Hoặc:
Chiều nay rừng núi xôn xao, cờ phất phới bay trên giao thông hào
Trong tiếng reo hò hòa bình, chiều nay sa trường còn máu
Anh em mình thề diệt lũ hiếu chiến, vì giờ này sung chưa ngưng tiếng…
Khi tất cả đã sẵn sang cho buổi mai hôm sau tiến về miền Tây để bắt đầu chiến dịch, một buổi tiệc khoản đãi được tổ chức tại câu lạc bộ Hải quân, được thiết kế trên một chiếc tàu nổi tiếng tại bến cảng Bạch Đằng. Tất cả khách tham dự đều không có ghế ngồi để được hòa đồng và dể dàng tiếp xúc, thân mật với nhau. Có nhiều vị tướng lãnh và các sĩ quan cao cấp tham dự, trong đó có Trung Tướng Trần Văn Trung, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên TCT/TC Tiếp Vận. Trên sân khấu có Biệt Đoàn Văn Nghệ giúp vui. Trong dư âm rộn rã của những bài ca do các ca sĩ tài danh hát, những ly bia đầy cùng chúc mừng nhau, hứa hẹn một ngày về.
Chúng tôi được phân phối về tiểu khu Định Tường, nằm trong thành phố Mỹ Tho. Sĩ quan trưởng toán là Trung Úy Lê Phước Ánh, ĐĐT ĐĐA/SVSQ. Phòng 3 hành quân của Tiểu Khu thuyết trình về tương quan địch và ta một cánh nhẹ nhàng làm anh em vô tư về một chuyến đi an toàn. Xe GMC chuyển ngưng ở quận Cái Bè, chúng tôi tạm chia tay nhau. Lòng trĩu nặng lưu luyến những người bạn,không biết có còn gặp nhau nữa không. Ba SVSQ còn lại là Nguyễn Văn Thái, Đặng Viết Luân, Phạm Hữu Huê, trực thuộc quận Giáo Đức đến trình diện TĐ 512/ĐPQ.
Vừa đến hậu cứ, Tiểu Đoàn Trưởng cho biết đơn vị đang giao tranh, chưa vào vùng hành quân được, phải đợi lực lượng mở đường. Cả ba chúng tôi nôn nóng chờ đợi trong vài ngày, lòng bồn chồn thấp thỏm. Hậu cứ tiểu đoàn là một dãy nhà tôn nằm ngay trên Quốc Lộ 4, ngày ngày chỉ có vài nhân viên quân số và tiếp liệu làm việc và lâu lâu có thân nhân tử sĩ đợi chờ làm giấy tờ. Cảm thấy tinh thần trách nhiệm, cả ba chúng tôi nằng nặc đòi vào, cuối cùng vị TĐT bảo các anh muốn vào thì tự túc vào, tôi chỉ đường cho.
Trên hương tỉnh lộ 12 hướng về xã Thanh Hưng, Ba anh em chúng tôi cùng với một kiện sách giải trí và vài món thể thao như bóng tròn, bóng chuyền, vũ cầu, cây đàn ghita, quà của TC/CTCT trang bị,cùng vui vẽ tiến bước. Đáp chuyến xe lam vào mục tiêu,đi hiên-ngang giữa không khí chiến tranh, ba người lính trẻ, tóc cắt ngắn, áo quần thẳng nếp, giày sô bong láng, lại thắt phu la xanh và đeo phù hiệu alpha, tạo ra một hiện tượng lạ giữa con mắt tò mò của người dân địa phương. Rất may, đoạn đường đến điểm hẹn bình yên và mỗi người được các đại đội cử người đến dẫn về.
Trình diện Trung Úy ĐĐT xong, tôi xin được triển khai công tác, yêu cầu tập họp đại đội để tổ chức học tập chính trị. Đại đội đóng rãi rác quanh đây và khi đã gom quân, tôi bắt đầu tập hát, kể chuyện, để tạo nét sinh động trước khi vào đề tài. Quân số sơ sài, tiếp vận nghèo nàn… ai nay cũng xin cho mau xong để về sinh hoạt như cũ. Bỗng nhiên có tiếng nổ khô khan nghe từ xa, nét mặt mọi người biến sắc và nhanh như chớp, binh sĩ lao xuống các hố cá nhân và giao thông hào kề cận, giây lát sau là tiếng nổ lớn bên hông buổi họp. Đó là tiếng pháo của cối 61 ly, có nghĩa là địch đang ở gần. chưa hết hồi hộp thì một người lính vui vẻ nói:
- Đi ra đi ông thầy!.
Tôi thận trọng bước ra khỏi hố cá nhân mà đại đội trưởng đã cho đào sẵn trước buổi sinh hoạt, tim vẫn còn đập thình thịch. Ôm chặt cây súng M16, đầu đội nón sắt hai lớp, tôi có cảm giác an tâm và ấm cúng một chút. Địch biết rõ ba anh em chúng tôi đến nơi nên mới chỉ chào mừng bằng tràng pháo kích ngắn, chưa biết có gì xảy ra sắp đến… Trên bản đồ, địa hình trấn đóng có tên là Cồn Quy, một cù lao trên giòng sông Tiền Giang. Ngoài những giờ giấc canh phòng, binh sĩ thường len lỏi vào những vườn cây ăn trái như xoài, ổi, mận hoặc để hái trái hoặc để tát đìa khi con nước rút để bắt cá, phụ vào các bữa ăn nhất là làm mồi cho các bữa nhậu. Có men rượu, cùng sự góp mặt hòa đồng của chúng tôi, anh em binh sĩ có thêm sự an ủi, bạo dạn khi đối đầu với hiểm nguy phía trước. Có thêm một tay sung, đơn vị ấm them một chút. Tuy nằm tuyến đầu cực và vất vả nhưng tôi đọc được những tâm trạng trung thực nhất, cũng như thấu rõ những ước vọng của người lính. Tình hình hành quân căng thẳng mà quân số quá thưa thớt, trung đội vỏn vẹn từ 10 người trở lại, đêm ngày canh gác liên miên . Quân trang bổ sung thiếu rất nhiều, đa số lính đi chân không, đôi giày bố thì nâng niu giữ, áo quần quá tệ hại, đôi khi một bộ áo quần muốn giặt giũ, lính phải ở trần, đạn dược và lựu đạn cũng hạn chế, quả lựu đạn ở đây rất quý, được cất giữ kỷ-lưỡng. Nói đến phép thường niên thì quá xa vời, cứ một lần được dịp qua con lộ nào, lính chuồn về nhà thăm vợ con, cha mẹ là chuyện thường cho dù khi trở lại đơn vị, có ăn roi cũng vui. Tôi làm quen với cảnh sống và hết lòng tin tưởng vào cây súng M16 và mấy quả lựu đạn. Địch có đánh vào lúc này chỉ có đường là chiến đấu… Lạ nước, lạ cái, đường cùng muốn chạy cũng không biết thoát chỗ nào. Một bữa nọ, từ tuyến đầu trở về đại đội, tôi nhờ quá giang bằng một chiếc ghe “tát rán” để băng qua sông. Chủ ghe không biết vô tình hay cố ý làm máy không nổ, ghe trôi dật dờ trên dòng nước trong khi một tràng AK nổ dòn, đạn tủa bên hông, ghim lốp bốp dưới mặt nước quanh ghe. Tôi chụp lấy tay chèo, luồn ghe vào bờ, lủi vào bụi rậm gần đó thủ thế… và thoát được cơn nguy biến.
Đến gần ngày mãn nhiệm công tác. Đơn vị hành quân băng ngang qua Quốc Lộ IV, ba anh em chúng tôi gặp nhau lại ở hậu cứ tiểu đoàn, áo quần vàng khè vì nước phèn, ôm nhau mừng rỡ vì ai nấy thèm chi lạ một ly cà phê. Chỉ một ngày sau đó, nguyên tiểu đoàn gần như xóa tên trong trận đánh kinh Cổ Cò, Giáo Đức, các đơn vị trưởng quen biết và hằng sinh hoạt với nhau trong thời gian qua, đa số tử trận, nhiều binh sĩ bị thương đưa về trạm xá cứu thương. Tôi có dịp thăm họ trước khi về lại Tiểu Khu Định Tường để đúc kết công tác. Nước mắt tôi ứa ra khi nghe Hạ Sĩ Bi, chuyên bắt cá, nấu ăn và sát cánh với tôi trong thời gian qua đã vĩnh viễ ra đi với người Trung Đội Trưởng Lê Khiết, gốc Quãng Trị.
Trung Úy Lê Phước Ánh, trưởng toán công tác, nghe tin tổn thất, vội vả tìm, khi gặp nhau, không dấu nổi cảm xúc…
Giữa tháng 6/1974, nhờ sát cánh nhau trong đợt đầu thử thách, Thiếu Tá Liên Đoàn Trưởng SVSQ ưu tiên cho ba anh em chúng tôi gồm Thái, Luân, Huê được nhận công tác chung lần thứ hai. Chuyến này trực chỉ Châu Đốc. Cơ hội hiếm hoi trong đời được đi đến những nẻo đường xa vời của đất nước. Được làm quen với thành phố có những di tích cổ thời Pháp thuộc… công viên, đèn đường, dinh thự đều mang nét kiến trúc Tây Phương.Con sông lớn xuất phát từ Nam vang là nguồn sống của người dân nhờ vào nghề đánh lưới bắt tôm cá. Thức ăn ở đây thật dồi dào. Dịp tốt được dạo chơi trên phố Thủ Khoa Nghĩa, viếng thăm trường trung học Thoại Ngọc Hầu và ngắm nhìn phố xá với những quán cà phê nằm trên sông. Phong cảnh yêu kiều thơ mộng đã cột chân ba chàng SVSQ trẻ trung bằng những mối tình học trò thơ ngây để rồi trả lại cho tháng ngày mênh mông khi quay về nhiệm vụ. Sau khi trình diện TĐ 560/ĐPQ, tôi được gởi về Đại Đội 1 đang trấn đóng vùng Đồng Cộ Ky, nơi có con sông nhỏ làm biên giới Việt-Miên. Đơn vị này giữ an ninh vùng biên giới nơi xa xa là những cánh đồng cây cỏ lúp xúp, nằm rãi rác.Cũng quanh đây là những ngôi chùa Miên, nơi hang đêm đều đặn tiếng mõ cầu kinh. Đại Đội Trưởng của đơn vị mới đến là một sĩ quan gốc giáo phái, rành rõi và thông thạo chiến trường. Đêm về, tôi phụ giúp lập hàng rào hỏa lực để bố phòng đơn vị. Tôi quay một vòng tròn quanh ụ sung cối rồi cho cắm các tiêu mốc làm hướng tác xạ dự phòng để che chở cho con cái lúc về đêm. ĐĐT tin tưởng và sát cánh tối đa trong từng bước một, mỗi lần tập huấn, ông đứng bên cạnh, cùng hát hò, và thường tiên phong phát biểu ý kiến hoặc nêu câu hỏi. Một chiều kia, đơn vị thám báo cho biết địch quân xuất hiện, ông cùng tôi cấp tốc chạy tới điều quân, giàn chiến thuật chữ L, để một mặt tấn công, một mặt yểm trợ và rút lui khi cần. Ông cho tôi ban lệnh khai hỏa, sung lớn, sung nhỏ, lựu đạn, M79 đồng loạt nổ ran, cả một nồng nặc mùi thuốc súng . Đó là một buổi chiều rất dài trong đời tôi và lần đầu với trận đánh trong đời. Khi thu nhặt chiến trường, nhìn thấy máu, chết choc và thương tích, long tôi không khỏi xót xa cho thân phận con người. Vị ĐĐT thấy tôi năng nổ, nhiệt tình, ông nói:
-Khi anh đi rồi chắc đơn vị sẽ buồn vì thiếu anh. Anh đã để lại cho đơn vị nhiều kỷ niệm khó quên.
Tại đây quân số và tiếp vận cũng kém, nhưng đỡ hơn hồi ở TK Định Tườn nhiều. Lính ma lính kiểng thì chỗ nào cũng có, ít hoặc nhiều mà thôi, đơn vị trưởng thì cứ bảo đào đâu ra chi phí cho thanh tra, tiếp liệu và đời sống ở hành quân… Tệ hại nhất bây giờ là khi yêu cầu giúp đỡ hoặc yểm trợ mọi vấn đề, đều phải dung “bao thơ” nhất là xin pháo binh, tải thương, tiếp liệu.
Một hôm tại BCH/TĐ, thanh tra ập đến, không ai trở tay kịp, bên ban ngành lo thuyết trình, bên tiếp tế lo tiếp đãi… Tôi và các bạn ngạc nhiên nhìn một anh lính cắt tiết và mổ ruột một con vịt đang còn sống. Anh ta đánh tiết canh và xào món long trong nháy mắt và dọn lên cho phái đoàn thưởng thức. Vị TĐT rất an tâm về bản phúc trình tổng kết của chúng tôi về tình hình bảo vệ biên giới. Khi trở về lại Quân Khu tôi mua được ba xấp vải xà rông ở chợ trời biên giới và làm quà cho người em gái miền song Hậu và bằng tưởng lục được Tiểu Khu Châu Đốc cấp.
Tháng thứ ba, chia tay Thái và Luận và khi bốc thăm đơn vị, tôi được phân phối về Tiểu Khu Sa Đéc, long tôi thích thú vì có thêm một chân trời mở rộng. Tiểu Đoàn 514 ! lại tăng phái về Tiểu Khu Định Tường và tôi có dịp về lại vùng Cai Lậy, nơi trước đây, mỗi lần chuyển quân đều đi ngang qua cây cầu chiến lược nằm trên Quốc Lộ IV này.
Tại đây, cư dân đa số làm nghề bánh tráng phồng tôm. Tôm khô hòa với bột gạo, in thành những miếng nhỏ, khi chiên vào chảo dầu, bánh phồng lên và trở thành món ăn rất khoái khẩu. Toán mới gồm Lê Đức Ái, Trần Ngọc Long, Phạm Hữu Huê… lang thang phố phường một hơi rồi về nhận phương tiện để ra vùng hành quân ở bên Định Tường. BCH/TĐ đặt dưới chân cầu Cai Lậy, thị trấn này vang tiếng trước dư luận trong và ngoài nước về cuộc pháo kích tàn ác của VC vào trường tiểu học cộng đồng cấp I. Bản daonh hành quân lại đặt trong một ngôi đền thờ bên chân cầu, các phân ban tiếp vận, hành quân đều nằm nơi này. Ngoài Đại Đội Chỉ Huy, có ba đại đội tác chiến đóng dọc theo quốc lộ để bảo vệ và ngăn chận âm mưu phá cầu và làm tắc nghẽn giao thông con đường huyết mạch về miền Tây. Trên cầu là trạm xá liên đội ĐPQ, quanh cầu là những vòng lưới sắt kiên cố vây quanh. Có điều lạ là giữa khung cảnh căng thẳng và linh thiêng này, đình thờ là nơi ăn chơi tồi tệ của đơn vị trưởng và em út, anh em chứng kiến nhiều cảnh chướng tai gai mắt xảy ra hàng ngày mà họ cứ tỉnh bơ, xem như không có chuyện gì. Thị trấn có những quán ăn sầm uất, nhiều trạm xăng dầu nên đoàn xe liên tỉnh hàng ngày đến và đi nhịp nhàng nên không khí ở đây rất sinh động.
Khi đến đợt tiếp tế, tôi theo xe vào hành quân. Gặp lúc bị bệnh kiết lỵ, trước đó, khi khám bệnh ở trạm xá, bác sĩ quân y phê vào miễn hành quân… Nhìn Ái và Luân ra đại đội, tôi cảm thấy buồn và ái ngại lại mong muốn hoàn thành chỉ tiêu như nhau. Tôi trình xin bác sĩ cho vào hành quân, dù bị bệnh. Ông ta nói:
-Tôi chưa từng thấy ai như anh, tôi phê bệnh mà nếu anh muốn vào, tôi cho anh vào hành quân.
Vào đến đại đội, gặp Thiếu Úy Hùng, tôi trình bày công tác và xin tập họp đại đội học tập nói chuyện… gặp lúc này bệnh kiết lỵ hoành hành dữ quá, tôi đi không nổi, bò qua bò lại trong căn hầm chữ A và không chịu nổ vì phải đi vệ sinh quá nhiều. Đêm đêm, bên ngoài, mỗi lần nghe tiếng vịt đàn rộ lên là biết có địch đang bám sát, ĐĐT cho thụt trái sáng lên liền và quy hướng tác xạ… Sau mấy ngày, tôi được gởi trả về BCH/TĐ, tại đây tôi lại gặp hai người bạn là Ái và Long cũng mới được trở về và ba anh em tiếp tục những ngày công tác tại đây. Túi tiền và trang bị đã cạn, ba người ăn cầm chừng cho qua ngày, bên tiểu đoàn làm lơ không cần biết đến. May mắn chúng tôi gặp được một niên trưởng khóa 3 là Thiếu Úy Ngô Kim Trọng, Trưởng Ban 5 tiểu đoàn. Anh em gặp nhau sau những ngày hành quân, mừng lắm… anh dốc hết số tiền có được, bao đàn em ăn ở. Mỗi buổi chiều thường gặp nhau ở quán ăn hay ở nhà người thân, có dịp ngồi lại và tâm sự chuyện đời, những kỷ niệm quân trường, san sẻ những thăng trầm của đời lính. Đây là vị niên trưởng duy nhất mà tôi gặp trên đường công tác miền Tây. Niềm thương mến che chở đàn em khi ra bên ngoài quân trường mẹ đã để lại cho ba anh em chúng tôi những suy nghĩ về một tình cảm thắm thiết và chân tình khó có trong đời.
Thấp thoáng ba tháng chiến dịch khắp 16 tỉnh miền Tây đã xong, một số anh em khóa 4 đã anh dũng hy sinh như NT4 Trần Tiến Dũng, NT4 Diệp Nguyên Dũng, NT4 Võ Tấn Thạnh, NT4 Bùi Văn Huê. Mất tích trên chiến trường có: NT Hứa Danh Lưu, NT4 Võ Văn Hùng, NT Nguyễn Thanh Triều. Nỗi ngậm ngùi xúc cảm trào dâng, mỗi lần nhớ đến những người bạn, tôi chua chat nghĩ đến cảnh cha mẹ già thương khóc con.
Sau mỗi đợt công tác, về tới hậu tuyến là tôi mua nhật báo Sóng Thần, lật ngay trang sau, tìm tin tức bạn bè ra đi. Chắc chắn tại trường mẹ, mỗi lần ăn trưa, trước lúc đọc thực đơn, LĐ/SVSQ khóa đàn em có mặc niệm về sự anh dũng ra đi của các SVSQ khóa đàn anh như truyền thống trường Mẹ từ trước tới giờ.
Khi đã kết thúc công tác diện địa, anh em khóa 4 được chuyển qua công tác tại các đơn vị chủ lực: Sư Đoàn 7, Sư Đoàn 9, Sư Đoàn 21 và các Thiết Đoàn Thiết Vận Xa. Tại BTL/SĐ 21 lần này, tôi được về Thiết Đoàn 9 Kỵ Binh, tiền cứ đóng tại ngã ba Viễn Trình, ngõ vào tỉnh lỵ Chương Thiện. Ngày chào đơn vị, Trung Tá Thiết Đoàn Trưởng cho tập họp toàn bộ đơn vị để chúng tôi tổ chức học tập, hội thảo tình hình đất nước. Đoàn quân rất kỷ luật, ngồi im nghe thuyết trình, tập hát quân ca. Quanh trại là một đoàn cơ giới M113, gồm các đội khinh kỵ, xa đội chỉ huy, xa đội tiếp tế, xa đội cứu nạn, đậu quanh căn cứ chờ xuất quân. Anem thiết kỵ đáp lễ nhịp nhàng, ý kiến, câu hỏi và quân ca qua lại rất đồng điệu. Sau buổi thuyết trình, tôi được chỉ định về Chi Đoàn 2 để sớm hôm sau, theo đơn vị vào hành quân vùng sâu của xứ Đồng Tháp, đây là vựa lúa khổng lồ của miền Nam.
Đoàn quân tiến thẳng vào hướng Thái Lai, Cờ Đỏ. Xã Trường Hòa nằm giữa Rạch Giá và Chương Thiện. Xe chạy một hàng dọc, giữa cánh đồng nước mênh mông. Lúc này là mùa nước nổi,những bông lúa tốt tươi đùa rạp theo lằn nước. Sau những lượn sóng, các lờ đơm cá rô, cá lóc lộ ra, bên trong đầy những con cá đồng mập ú, vẫy vùng. Mục tiêu trước mặt là làng Thác Lác. Bộ binh của trung đoàn 32/SĐ 21 đã ứng trực sẵn bên kia làng. Chi đoàn chuyển đội hình, từ hàng dọc bỗng quay ngang và trực chỉ mục tiêu tiến tới… tất cả hỏa lực phóng về mục tiêu, những loạt đạn đại lien nổ hai lần tạo nhiều đóm lửa tỏa khói mù mịt vùng trước mặt. Sau đó bộ binh tràn lên lục soát và thu dọn chiến trường. Ngôi làng chỉ sau 30 phút đã trở thành bình địa.
Mỗi buổi sáng hành quân, chi đoàn trưởng mời anh em SVSQ đến họp, mời ăn sáng và thăm hỏi dặn dò… chương trình tiếp tục mãi thế trên đường hành quân cho đến khi chi đoàn bắt tay với cánh quân bạn tại Ô Môn, Thốt Nốt, tức khu vực an toàn thì trực thăng bốc chúng tôi trả về Chương Thiện. Tại bãi bốc này, NT4 Nguyễn Xuân Mạnh được tải thương về quân y viện để cấp cứu :Một trái cối 61 ly của địch pháo trúng thành xe, nổ trúng đạn lưới chống B40, sức ép hất tung anh lên trời rồi lộn nhào xuống ruộng nước. Mạnh bị thương và chấn động lớn, gây khó thở… tại quân y viện, anh nhận được Chiến thương Bội tinh từ Tư lệnh sư đoàn.
Kết thúc chiến dịch, Tư lệnh Sư Đoàn 21 cho mời gặp và tiếp đãi tại BCH/HQ ở Chương Thiện. Trong Hội Quán Sét Miền Tây, chúng tôi phúc trình tổng kết kết quả chiến dịch. Chuển Tướng Lê Văn Hưng và các sĩ quan chỉ huy chuyện trò vui vẻ, thân mật, tất cả cám ơn anh em SVSQ, những người trai trẻ, hiên ngang và đầy lý tưởng quốc gia. Chuẩn Tướng Tư Lệnh thân mật dặn dò: “Qua thấy mấu em còn ở quân trường, lý tưởng và long nhiệt huyết rất cao, sau này ra đơn vị, hoàn cảnh không như các em nghĩ, đòi hỏi nhiều thử thách và can đảm nữa.”
Hoàn tất đợt công tác cải tiến hiệu năng đơn vị vùng IV Chiến Thuật, Bộ Tổng Tham Mưu thấu rõ những đóng góp tích cực của trường ĐH/CTCT mà đặc biệt là các SVSQ/CTCT/NT4, trong đó 4 chiến sĩ anh dũng đền nợ nước và 3 chiến sĩ mất tích, cộng thêm thành tích hiên ngang thế đơn vị trưởng nằm xuống để điều binh tiếp tục trận đánh. Ba SVSQ đã xuất sắc trong vai trò chỉ huy và đã được tưởng thưởng Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu, đó là NT4 Nông Văn Vương, NT4 Bùi Công Thành và NT4 Vũ Đình Kiên và qua những phúc trình về nhân sự, tiếp vận, hành quân và nhất là thực tế đơn vị, đồng thời trang bị cho anh em binh sĩ hiểu rõ những đường lối của chính nghĩa quốc gia, vạch trần những âm mưu của CS. Nay Bộ Tổng Tham Mưu đi đến quyết định ân thưởng Anh Dũng Bội Tinh với ngành Dương Liễu, được gắn lên quân kỳ Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt.


NT4 Phạm Hữu Huê


 


 

 

 



Email : ctctkhoa4@yahoo.com