Second Chance

 

Nhằm giới thiệu những tài năng hậu duệ k4, mời đọc bài viết đặc sắc của cháu Oanh Trương (Ái nữ NT4 Trương xuân Hùng). Bài này được giải thưởng Intercultural Leadership Award Essay tại trường Đại học Rice, Hoa kỳ. Bản chuyển ngữ của NT4 Nguyễn Tâm.



“Oh, so you are DIS. I wasn't quite sure cause you blended in so well,” said a former Danish student of Grundtvigs Folkehøjskole. A reunion was being held at the place I called home for the last three months. Instead of the seventy Danes I was accustomed to, 300 former Danish students flocked the area, all drinking and dancing to the live band playing. I had just sat down to rest from all the dancing when this former student approached me for a little chat. We had only gone through introductions when suddenly he told me what I would consider the greatest compliment ever. As I sat watching the crowd, I found myself completely at ease with my surroundings. Everywhere, friends were reunited with one another, and there in front of me were my own friends, laughing uncontrollably at each other's silly dance moves, as they held one another's shoulders when the song ended. Katrine had turned her head and caught my gaze. She smiled and motioned me to come join them. As I gaily ran up to the dance floor to join them, I thought way back to the beginning of the semester. It wasn't always like this.

Upon arriving in Copenhagen, Denmark, I had heard all about the analogy of the Danes being a ketchup bottle, and how with a few squeezes, they would soon become my best friends. I hoped that was the case for upon arrival at Grundtvigs Folkehøjskole, I stuck out quite a bit, not only because I was an American, but more so because I was a Vietnamese-American, the only Asian girl at the folkehøjskole. I wanted desperately to rush through these nudges and squeezes. I tried doing so by asking the Danes lots and lots of questions to engage conversation and by cracking jokes so that they would laugh and feel more at ease with me. But I found that after answering my questions, they would quickly return to their Danish conversations.

Discouraged, I found myself in my room much of the first three weeks. I didn't realize it. It wasn't a conscious effort either. Rather, it came naturally when it came to situations of discomfort.

  One quiet Saturday afternoon, one of the Danes, Nikolaj, saw me and after a few exchanges of “Hej,” he continued with “Do you spend a lot of the day in Copenhagen, Oanh? I never see you around here.” I was definitely taken aback. Was I going to admit that I had actually just been in my room all these days? I hadn't thought people would notice, not especially the Danes. His comment definitely hit home, and it shined light on the fact that I wasn't putting in as much effort as I possibly could here studying abroad.

But I was at a crossroad. I knew at that moment, I had to instantly start hanging out with the Danes more, to make up for lost time. However, it was also at that exact time period that I had a giant pile of schoolwork to complete. With no other solutions in mind, I brought my work out of my room and into the common area of the folkehøjskole, staying up late many nights. Coincidentally, there was a group of three Danes--Katrine, Nikolaj, and Simon--that also always stayed up late. They weren't doing homework, however, since they don't get exams or grades. Rather, they just talked and enjoyed each other's company. Surprisingly, it was through such a setting, of long nights in one another's presence, that we all got extremely close with each other.

  Growing up in America, I was so accustomed to the American quick pace in all aspects of life. Most “friendships” are formed quickly back in the states by going out and doing activities with one another. The Danish culture is very much one of staying indoors after dinner and just leisurely enjoying each other's company. There's no need to rely on any external environment—just each other and the little things that makes each of us unique. They definitely introduced to me a new way of living, one of taking it easy and really noticing what's important. Simon is always quick to remind us that no physical item is worth fretting over if damaged, be it an iPhone or a DSLR camera. I also no longer feared silence. And yet, I realize I've already learned all this. But despite knowing something, it's a different story of implementation. Through them, I rediscover sides of me that I have been placing aside. Yet even still, the more I hang out with them, the more I realize it's not about adopting their culture. It's about also giving a piece of me to them.

I share with them not only the American culture but also the Vietnamese culture. I enlighten them on how both Buddhism and yoga have played an integral part to who I am. Together, with all our differences on backgrounds and cultures, we somehow agree and settle on our values of what is true living. We all have a piece of each other within us and it brings us all the closer.

  Many times at DIS, I come across a lot of classmates sharing their weekend stories as they list all the bars and clubs they went to in Copenhagen with their American friends. I know in a heartbeat, I would much rather spend my evenings in front of the fireplace with my fellow Danish friends. Even at my folkehøjskole, my American friends can't understand how I've become such great friends with the Danes especially since “they only open up when drinking and all the other times, they just ignore us.” To which I reply that it just takes time to build up trust after many encounters and conversations.

I know I am so blessed to have Katrine, Nikolaj, and Simon as my great friends. I can trust them with anything and everything, and I know they have the best interests for me. Through them, I have learned more about friendship than I have with any other single group, and I wouldn't have been able to gain such great friendships had I not stepped out of my comfort zone and jumped into a new culture. I might have scampered away at the beginning but I'm sure glad I tried again—with a new, more appropriate, approach. Sometimes that's what personal leadership is really all about: having the courage to admit wrong and trying again. It's through this lesson that I can more confidently lead my own life to greater experiences and in doing so, enable others to do the same.



Oanh Truong
Rice University
Positive Psychology C
Semester Student, Fall 2012

 

o0o

 

Cơ Hội Thứ Hai

 

“Ồ, vậy ra cô là DIS[1]. Tôi không chắc lắm vì cô hòa nhập vào đây khéo quá,” một cựu học sinh của trường Grundtvigs Folkehøjskole[2] nói với tôi. Năm nay, buổi họp mặt của trường đã được tổ chức tại đây, nơi mà tôi đã gọi là nhà sống chung với bảy mươi cư dân bản xứ Đan Mạch khác trong suốt ba tháng qua. Nhưng bây giờ thì không phải là bảy mươi mà là ba trăm cựu học sinh của trường tề tựu về đây họp mặt, ai cũng vừa uống rượu vừa nhảy nhót theo điệu nhạc ban nhạc sống đang chơi ầm ĩ. Tôi vừa mới ngồi xuống ngắm nhìn đám đông thì anh chàng xà tới bắt chuyện làm quen. Vừa mới xong phần chào hỏi xã giao ban đầu thì anh chàng đã ban cho tôi một lời khen để đời. Đưa mắt nhìn đám đông đang vui đùa tôi cảm thấy thật gần gũi với họ và cuộc sống chung quanh. Bạn bè gặp lại, đâu đâu cũng nghe tiếng cười sảng khoái, ngay cả các bạn của tôi trước mặt, tiếng cười rộn ràng chọc phá của một điệu vũ ngây ngô của bạn mình rồi cùng vui vẻ khoác vai nhau khi bản nhạc vừa dứt. Katrine quay lại và bắt gặp ánh mắt tôi. Cô mỉm cười và ra dấu cho tôi đến. Khi đứng lên để nhập bọn với họ trên sàn nhảy, tôi chợt nghĩ cái không khí bây giờ thật khác xa với lúc mới đến đầu khóa học. Nó đâu có giống như vậy đâu.

Khi mới chân ướt chân ráo đến Copenhagen thủ đô của Đan Mạch, tôi thường nghe nói về tính tình hòa nhã hiếu khách của họ được ví như một chai sốt cà chua, và nếu bạn “bóp” đúng chỗ, họ sẽ nhanh chóng trở thành người bạn thân thiết của bạn. Đó là điều tôi hy vọng khi đặt chân đến ngôi trường Grundtvigs Folkehøjskole này chỉ vì không những tôi là người Mỹ mà là một người Mỹ gốc Việt, một cô gái Á Châu duy nhất trong trường. Khi mới đến tôi đã cố gắng hết sức để vượt qua được những trở ngại, khó khăn ban đầu. Tôi đã cố bằng cách dùng Anh ngữ hỏi họ thật nhiều trong những dịp chuyện trò hoặc pha trò bằng vài câu diễu cợt nhẹ nhàng để họ cảm thấy thoải mái mà tiếp tục câu chuyện bằng Anh ngữ với tôi. Nhưng tất cả đều chẳng có kết quả gì, vì sau khi trả lời những câu hỏi của tôi một cách lịch sự, họ liền tiếp tục trở lại câu chuyện dang dở bằng tiếng bản xứ.

Nản chí, hầu như tôi chỉ nhốt mình trong phòng suốt ba tuần đầu. Tôi cũng chẳng buồn suy nghĩ thật ra đó chẳng qua chỉ là phản ứng tự nhiên khi gặp chuyện không vừa ý.


Vào một buổi chiều thứ bảy im ắng, Nikolaj, một cư dân Đan Mạch bản xứ nhìn thấy tôi và sau một vài câu chào hỏi “Hej,” anh chàng tiếp tục “Chắc cô bỏ nhiều thì giờ thăm viếng vòng quanh Copenhagen lắm phải không, Oanh? Vì chẳng khi nào thấy cô ở quanh đây cả.” Câu hỏi của anh làm tôi khựng lại. Không lẽ tôi lại nói thẳng ra là tôi nhốt mình trong phòng cả mấy ngày qua? Chẳng bao giờ tôi nghĩ là có người để ý đến mấy chuyện cỏn con này, nhất là người đó lại là một người Đan Mạch bản xứ. Câu hỏi của anh chàng đã đánh thức tôi, như một tia sáng rọi rõ cho tôi thấy cái mục đích du học của tôi ở đây và cảm thấy thời gian qua tôi vẫn chưa cố gắng đủ.

Nhưng tôi thì đang ở giữa ngã ba đường. Tôi chợt nhận ra rằng tôi phải tiếp xúc với dân bản xứ nhiều hơn nữa để bù lại thời gian phí phạm vừa qua. Nhưng bây giờ thì lại bị một chồng bài vở khổng lồ phải làm. Bí lối, thay vì làm bài trong phòng, tôi đem hết bài vở ra làm ở phòng học chung của trường, nhiều đêm phải thức khuya. Tình cờ, một nhóm ba sinh viên Đan Mạch – Katrine, Nicolaj và Simon – cũng thức khuya như tôi. Nhưng họ lại không phải làm bài vở ở trường như tôi mà lại chỉ thức khuya để tán gẫu và cười đùa với nhau. Ngạc nhiên thay, trong khung cảnh đó, chúng tôi lại trở nên thân thiết nhau hơn một cách kỳ lạ.

Được lớn lên ở Mỹ, tôi đã quen với nhịp độ chóng mặt của cuộc sống Mỹ. Hầu như “tình bạn” ở Mỹ đến và đi nhanh chóng như cuộc sống, để sau đó mọi người lại quay lại với cuộc sống riêng tư của mình. Văn hóa Đan Mạch thì hầu như chỉ thu gọn trong phạm vi căn nhà, và sau bữa cơm tối thì chỉ ở trong nhà vui với nhau. Họ không màng đến khung cảnh ngoại vi – họ chỉ cần có nhau và những cái vặt vãnh của chúng tôi đã tạo nên cá tính đặc biệt của từng người. Họ đã đem đến cho tôi một lối sống mới lạ, bằng cách sống thoải mái và chỉ chú tâm đến những điều quan trọng hơn là chi tiết nhỏ nhặt. Simon đã nhanh chóng dạy cho tôi biết chẳng có vật chất ngoại thân nào đáng cho ta quan tâm nếu bị hư hại, dù đó là chiếc máy ảnh DSLR đắt tiền hoặc chiếc iPhone sang trọng. Tôi không còn sợ hãi sự thinh lặng. Và hình như tôi vừa nhận chân được rằng, tôi đã học được những điều đó rồi. Nhưng biết và làm được hay không thì lại là chuyện khác. Qua họ, tôi khám phá thêm nhiều điều lý thú mà lâu nay tôi lãng quên trong tiềm thức. Còn nữa, càng tiếp xúc với họ, tôi càng nhận chân được rằng không phải chỉ có tôi hòa nhập vào văn hóa của họ, mà tôi cũng truyền bá một phần của tôi cho họ nữa.

Không những chỉ chia sẻ văn hóa Mỹ với họ mà tôi còn truyền bá nét văn hóa đặc thù của Việt Nam cho họ nữa. Tôi tỏ cho họ thấy Phật giáo và yoga đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tôi thế nào để tôi trở thành một người như hôm nay. Và dù văn hóa và kiến thức khác biệt, chúng tôi đã cùng nhau chia sẻ và đồng thuận trên một số nguyên tắc trong cuộc sống. Hình như trong mỗi người chúng tôi đều mang một phần của nhau để xích lại gần nhau hơn, thân thiết hơn.

Nhiều lần ở DIS, tôi vẫn thường nghe các bạn cùng lớp kể lại những mẩu chuyện vụn vặt về các quán rượu và câu lạc bộ mà họ đã ghé qua với các bạn Mỹ của họ ở Copenhagen trong những dịp nghỉ cuối tuần. Nhưng trong thâm tâm, tôi vẫn thích ngồi tán dóc với các bạn Đan Mạch của tôi trước một lò sưởi ấm áp hơn. Ngay cả trong trường, các bạn Mỹ cùng lớp cũng không thể hiểu tại sao tôi lại có thể trở thành thân thiết với các bạn Đan Mạch của tôi đến như vậy, nhất là họ cứ cho rằng dân Đan Mạch thường “chỉ thoải mái khi có hơi rượi vào thôi, còn thì phe lờ hết.” Có gì ghê gớm lắm đâu? Tôi trả lời với các bạn Mỹ của tôi là bạn chỉ cần bỏ chút thì giờ để tìm hiểu để tạo lòng tin và cảm giác thân thiết để họ thấy thoải mái hơn khi tiếp chuyện với mình thôi.


Tôi biết là mình thật may mắn khi có những người bạn Đan Mạch thật tốt và dễ thương như Katrine, Nicolaj và Simon. Tôi đặt tin tưởng tuyệt đối nơi họ về mọi chuyện, và tôi biết họ cũng có cùng suy nghĩ như tôi. Qua họ, tôi học được nơi họ thế nào là một tình bạn tuyệt vời mà tôi không thể tìm được ở những nhóm khác, và không có họ chắc tôi cũng chưa thể lột bỏ được cái cảm giác cô độc thích thu mình vào một góc như lúc mới đến để học hỏi thêm về một nền văn hóa mới mẻ. Lúc đầu, tôi cũng nghĩ chỉ học lướt qua cho có lệ, nhưng bây giờ thì tôi cảm thấy thật phấn khởi là mình thực sự đã cố gắng hơn rất nhiều bằng những phương pháp khác nhau để tìm hiểu họ và thân thiết với họ hơn. Với tôi, có lẽ đó là phương châm tự làm chủ lấy mình: can đảm để biết mình sai và cố gắng sửa đổi. Qua những kinh nghiệm quý báu trong dịp du học này, tôi đã tự tin hơn để sống cuộc đời mình cho có ý nghĩa và giúp các bạn khác cũng làm được như thế.

 


Nguyễn Tâm chuyển ngữ.

 

[1] DIS (Danish Institute for Study Abroad) là một tổ chức của chính phủ Đan Mạch lập ra để tạo điều kiện cho các sinh viên ngoại quốc đến Đan Mạch du học tại chỗ để trao đổi với các sinh viên/học sinh bản xứ.

[2] Grundtvigs Folkehøjskole là một trường trung học dành cho người lớn ở Đan Mạch. Folkehøjskole theo tiếng Đan Mạch có nghĩa là trung học dân dã (folk high school).

 

 

 

 

 


Email : ctctkhoa4@yahoo.com