Châu Á Thái Bình Dương trong ván cờ tương tranh quyền lực.

 

 

Việc chuyển hướng chiến lược từ Đại Tây Dương và Trung Đông về vùng Châu Á-Thái Bình Dương của chính quyền Obama trong thời gian vừa qua, một lần nữa tái khẳng định quyết tâm của Washington trong việc duy trì vùng ảnh hưởng quyền lực của mình tại địa bàn trọng yếu về kinh tế lẫn an ninh-chính trị của thế kỷ 21: Vòng cung chiến lược Tây Bộ Thái Bình-Ấn Độ Dương.

Sau gần một thập niên lãng phí nhân-tài-vật lưc tại chiến trương Iraq và Afghanistan, và nhất là sau cuộc khủng hoảng tin dụng toàn cầu năm 2008, với cái chết tiếp theo đó của tay trùm khủng bố bin Laden, giới lãnh đạo tại Washington cảm thấy đã đến lúc phải xếp lại trang sách gối đầu với bài bản cũ (chống khủng bố toàn cầu và truyền bá dân chủ tự do trên toàn thế giới đầy vọng tưởng của giới tân Bảo Thủ), để chuyển sang một giai đoạn mới nhiều bức thiết hơn nhằm duy trì sự an ninh, ổn định và ngôi vị siêu cường của quốc gia Hoa Kỳ trên chính trường quốc tế--hợp tác trên thế mạnh với Trung Hoa Cộng Sản, một đối sách chiến lược mới nhằm kềm chế con rồng đỏ Á châu đầy hung hăng, tham vọng, đang muốn vươn lên làm bá chủ khu vực và thống trị toàn cầu soán ngôi người Mỹ!

Sau hơn ba mươi năm thực hiện chính sách mở cửa kinh tế để thu hút nguồn vốn đầu tư cùng công nghệ chuyển giao, cần yếu cho nhu cầu sản xuất đại trà các mặt hàng tiêu thụ giá rẻ , cung ứng cho thị trường rộng lớn của Hoa Kỳ và châu Âu, Đặng Tiểu Bình và các nhà lãnh đạo Trung Quốc kế thừa đã hoàn toàn thành công trong việc biến một nước Trung Hoa Cộng Sản nghèo nàn, lạc hậu thành một cường quốc về kinh tế đứng hàng thứ hai trên toàn cầu, một trung tâm hàng đầu chuyên sản xuất và xuất khẩu hàng hóa tiêu dùng cho các thị trường chủ yếu trên toàn thế giới.

Khai thác những kẻ hở của chính sách kinh tế hóa toàn cầu và sự hám lợi của giới tư bản tài phiệt Hoa Kỳ và phương Tây, giới lãnh đạo Trung Hoa đỏ đã áp dụng triệt để chính sách kinh tế ‘mercantilism’, chú trọng thuần vào việc xuất khẩu hàng hóa tiêu thụ, tận dụng nguồn nhân công rẻ mạt dồi dào trong nước để hạ giá thành sản phẩm, kềm giá đồng nhân dân tệ so với các ngoại tệ mạnh và tài trợ hàng xuất khẩu để tạo lợi thế cho cạnh tranh xuất cảng, cũng như hạn chế hàng hóa nhập khẩu qua những rào cản mậu dịch để bảo vệ thị trường bản xứ chống lại mọi sự cạnh tranh của các hàng hóa phương Tây vượt trội hơn về phẩm chất! Trong thập niên 2000s, giới tư bản tài phiệt Mỹ với sự hậu thuẩn của chính quyền Cộng Hòa đương nhiệm, đã tạo thêm một cơ hội cho Trung Quốc khống chế thị trường hàng hóa và nguyên-nhiên liệu trên thế giới, qua việc thực thi chính sách kinh tế “Toàn Cầu Hóa với Trung Quốc là tâm điểm”(China-CentricGlobalization-Thomas I. Palley-New America Foundation), tập trung toàn bộ việc sản xuất hàng tiêu thụ phẩm cho thị trường Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu về các nhà máy lắp ráp khổng lồ tại lục địa Trung Hoa, để thay thế cho dây chuyền sản xuất cũ, trước đây đặt tại các quốc gia Á châu như Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Trung Quốc, Đài Loan …

Mô hình sản xuất dây chuyền mới nầy mặc dầu mang lại những lợi nhuận kếch sù cho giới tài phiệt Mỹ qua các công ty đa quốc gia (Multinationals) đang hoạt động tại lục địa Trung Hoa (do giá nhân công rẻ mạt, do việc kềm giá đồng Nguyên để tăng giá trị giả tạo của đồng đô la trên thị trường mậu dịch quốc tế, tạo lợi thế trong việc thu mua nguyên-nhiên liệu cung ứng cho nhu cầu sản xuất chế biến, cùng với những biện pháp tài trợ hàng xuất khẩu của chính quyền Trung Quốc nhằm khuyến khích khu vực sản xuất xuất khẩu), đã đồng thời mang lại những lợi ích kinh tế-tài chánh khổng lồ, quan yếu cho sự trỗi dậy của một nước Trung Hoa Cộng Sản đầy tham vọng, sau bao thập niên trì trệ, bế tắc do theo đuổi đường lối kinh tế chỉ huy trung ương hoạch định của Mao Trạch Đông!

Những hệ lụy do chính sách kinh tế “Toàn Cầu Hóa với Trung Quốc là tâm điểm” gây ra đã có những tác động tiêu cực đối với nền an ninh-kinh tế- chính trị của Hoa Kỳ. Sự chuyển giao kỹ thuật, vốn đầu tư và phương tiện sản xuất, cùng thị trường tiêu thụ cho Trung Hoa, đã tước đi tiềm lực của nền công nghiệp sản xuất-chế tạo sản phẩm, cột sống của nền kinh tế Hoa Kỳ từ bao thập kỷ nay. Sự hạn chế và suy giảm nhu cầu tiêu thụ trong nước do tỷ lệ thất nghiệp tăng cao trong nội địa nước Mỹ, sự thâm thủng mậu dịch khổng lồ trong cán cân thương mãi do sự giảm sút khả năng cạnh tranh xuất khẩu, sự lệ thuộc nặng nề vào hàng hóa nhập cảng từ bên ngoài, đã đe dọa khả năng phục hồi kinh tế (sau cơn đại suy thoái năm 2008), cùng tiềm năng phát triển của nền kinh tế quốc gia Hoa Kỳ trong tương lai. Một yếu tố khác không kém phần quan trọng: sự băng hoại của nền công nghiệp sản xuất của Hoa Kỳ đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến lãnh vực an ninh–quốc phòng khi quân lực Mỹ phải lệ thuôc vào các quốc gia bên ngoài để cung cấp những bộ phận xử dụng trong việc chế tạo các trang thiết bị quân sự tối tân, nhất là lệ thuộc vào Trung Quốc, một quốc gia hoàn toán không phải là một đồng minh thân hữu của Hoa Kỳ!

Bên cạnh đó, sự thâm thủng mậu dịch hàng năm của Hoa Kỳ đối với Trung Hoa đã tạo sự bất ổn trong lãnh vực an ninh tài chánh khi Trung Quốc có thể xử dụng số dự trử ngoại tệ khổng lồ bằng đô la nầy (trên 3000 tỷ đô) để tạo áp lực lên nền kinh tế-tài chánh Hoa Kỳ trong những tình huống có khủng hoảng về địa dư chính trị hay có sự đối đầu trực tiếp giữa hai quốc gia. Sự vươn lên của Trung Quốc trong tư thế một xưởng sản xuất hàng hóa lớn cho thế giới, cộng thêm với tiềm lực tài chánh ngày càng gia tăng đã đưa Trung Quốc lên một vị thế có tầm ảnh hưởng lớn lao về kinh tế-chính trị đối với mọi miền trên thế giới từ Đông Bắc Á, Đông Nam Á, cho đến các lục địa Phi Châu, Úc Châu, Âu Châu và Nam Mỹ vì là một khách hàng quan trọng tiêu thụ các nguồn nguyên- nhiên liệu khổng lồ, và đồng thời cũng là nguồn cung ứng những hàng hóa nhu yếu cho thi trường trên toàn thế giới (Thomas I. Palley-New America Foundation).

Với một tiềm lực kinh tế hùng mạnh đang phát triển, và nhất là để bảo vệ những tuyến đường giao thông hàng hải huyết mạch, quan yếu cho sự sống còn của một nền kinh tế lệ thuộc nặng nề vào sản xuất-xuất khẩu và tiêu thụ nguyên-nhiên liệu, trong hai thập niên vừa qua giới lãnh đạo Bắc Kinh đã chú trọng vào việc đầu tư phát triển, canh tân hóa lực lượng Hải Quân, Không Quân và lực lượng pháo binh chiến lược (Quân Đoàn Pháo Chiến Lược Số 2, trang bị các hỏa tiển mang đầu đạn thông thường và hạt nhân). Với một ngân sách quôc phòng khoảng trên một trăm tỷ đô la hiện nay (dự trù có thể lên tới con số choáng ngợp 238 tỷ đô vào năm 2015 và sẽ vượt qua ngân sách chi tiêu cho quốc phòng Mỹ sau 2035!!), Trung Nam Hải đã dồn mọi nỗ lực vào việc phát triển những vũ khí-khí tài hiện đại nhất với mục tiêu kềm chế và trung hòa mọi sự điều động phối trí của các lực lượng quân sự tác chiến viễn chính của Hoa Kỳ nhằm can thiệp vào những cuộc xung đột vũ trang bùng phát trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương (A2/AD: anti-access/area denial).

Lưc lượng tiềm thủy đỉnh tấn công nhanh tối tân của Trung Hoa gồm khoảng 60 chiếc, chạy bằng động cơ diesel hay nguyên tử, được trang bị các hỏa tiển ‘cruise’ chống hạm, hỏa tiển đạn đạo thông thường và hạt nhân có khả năng tấn công các nhóm xung kich đặc nhiệm hàng không mẫu hạm Mỹ và hải quân đồng minh hoạt động trong vùng biển quanh Trung Hoa và tại vùng tây bộ Thái Bình Dương, phối hợp với các khu trục hạm, hộ tống hạm trang bị các vũ khí hiện đại của các hạm đội Nam Hải, Bắc Hải… là những mũi nhọn bảo vệ vùng lãnh hải Trung Hoa, ngăn chặn mọi áp lực đe dọa vùng cận duyên Trung Quốc của các lực lượng hải quân thù địch và đồng thời là một lực lượng nguyên tử răn đe chiến lược tuyến hai (các tiềm thủy đỉnh trang bị vũ khí nguyên tử) trong những tình huống chiến tranh hạt nhân bùng nổ!

Lực lượng không quân Trung Quốc cũng được hiện đại hóa với các chiến đấu cơ J10, J11, J15, J18 sao chép từ các loại chiến đấu cơ Sukhoi tối tân mua của Nga, có thể bảo vệ vùng trời Trung Quốc trong những xung đột vũ trang sắp tới, cũng như có khả năng tấn công những mục tiêu trên bộ quanh vùng biên giới với Ấn Độ, Việt Nam, hay các quần đảo đang tranh chấp tại Nam Hải và Đài Loan. Mới gần đây, Trung Quốc đã tiến hành việc thử nghiệm loại tiêm kích tàng hình thế hệ thứ năm J20, gây sửng sốt cho giới chuyên gia hàng không quốc tế về sự tiến triển vượt bực trong lãnh vực hàng không-không gian của Trung Hoa.

Việc phối trí thử nghiệm bước đầu loại hỏa tiền đạn đạo chống hạm tầm trung DF21Ds (cho Quân Đoàn Pháo Chiến Lược Số 2) với tầm hoạt động trên 1500 km có thể đánh đắm các hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ từ xa, trung hòa mọi đe dọa nhắm vào lục địa Trung Hoa của các máy bay tiêm kích chiến thuật của Hoa Kỳ trên các mẫu hạm nầy. Lực lượng pháo binh chiến lược Trung Quốc ngoài các hỏa tiển nguyên tử liên lục địa tầm trung và tầm xa (khoảng 8000 km) và loại ASATs chống vệ tinh ra, còn có các loại hỏa tiển tầm trung với mức độ chính xác và sức công phá rất cao có thể hủy diệt các căn cứ quân sự chiến lược của Hoa Kỳ và đồng minh tại vòng đai bao quanh Trung Hoa như Nhật Bản, Nam Triếu Tiên, Đài Loan, và ngay cả tại Guam trong tình huống chiến tranh xảy ra.

Song song với việc phát triển các loại vũ khí chống vệ tinh (ASATs) và vũ khí tin học (cyber-weapons) nhằm hủy diệt mạng lưới thông tin liên lạc tối cần yếu cho việc chỉ đạo chiến tranh của quân đội Hoa Kỳ trên toàn thế giới, Trung Quốc đã chú tâm vào việc phát triển mạng thông tin-liên lạc-chỉ huy-tình báo-thám thính (C4ISR: command, control, communications, computers, intelligence, surveillance & reconnaissance) của riêng mình để phục vụ cho nhu cầu tác chiến ứng dụng kỹ thuật cao trên các chiến trường ngày nay và trong tương lai.

 

 

Từ ngàn xưa, Trung Hoa vẫn là một đế quốc lục địa mặc dấu có một vùng duyên hải dài gần 9,000 dặm nẳm bên bờ Thái Bình Dương. Lực lượng hải quân Trung Hoa thường không phải là là một lực lượng quân sự mạnh, trừ một khoảng thời gian ngắn ngủi dưới triều Minh Thành Tổ (1403-1424) với đô đốc Trịnh Hòa, gốc người Hồi, từng chỉ huy một hạm đội hùng mạnh hải hành tới tận vùng Trung Đông và châu Phi qua ngả Ấn Độ Dương. Thế kỷ thứ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi đã chứng kiến một sự đổi thay nhiều bất hạnh cho một đế quốc Trung Hoa phong kiến, đầy kiêu căng tự mãn khi các hạm đội hùng mạnh của các liệt cường Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nga, Nhật… xâu xé lục địa Trung Hoa. Sự yếu kém của quân đội nhất là của hải quân Thanh triều đã góp phần vào sự sụp đổ của đế quốc Trung Hoa sau hàng ngàn năm là ‘trung tâm của nền văn minh nhân loại’, với hơn hai trăm năm tủi nhục tiếp theo đó! Có lẽ đây là một bài học đắt giá, khó quên cho các nhà lãnh đạo Trung Hoa hiện nay?!

Sau khi chiếm trọn Hoa lục năm 1949, Mao Trạch Đông ý thức được sự yếu kém của Trung Hoa trước hiểm họa ngoại xâm đên từ bên ngoài nhất là từ phương bắc và từ vùng duyên hải phía đông, đã chú trọng nhiều đến chiến lược quốc phòng toàn dân nhẳm bảo vệ một quốc gia lục điạ rộng lớn với dân số ngót một tỷ người. Giải Phóng Quân Trung Quốc được tổ chức theo cơ chế phòng thủ, bảo vệ lãnh thổ và an ninh nội địa (chống những nội loạn có thể có) hơn là tấn công chiếm đóng, chinh phục đất đai. Hải quân Trung Quốc cũng được tổ chức theo ý đồ chiến lược nầy. Trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, hải quân Trung Quốc chủ yếu chỉ là một lực lượng phòng vệ duyên hải, xử dụng một số lượng lớn các tàu loại nhỏ chuyên phóng ngư lôi và loại khinh tốc đĩnh trang bị hỏa tiến tấn công, thêm vào đó là một số lương nhỏ các tàu ngầm kiêu cũ và hộ tống hạm với mục đích bảo vệ vùng cận duyên, chú trọng thuần vào chiến thuật lấy số lượng nhiều để áp đảo các đối thủ được trang bị vũ khí-khí tài tối tân hơn như hải quân Liên Sô hay Hoa Kỳ. Sau khi chiến tranh lạnh kết thùc, và nhất là từ lúc Trung Quốc hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, giới lãnh đạo và các chiến lược gia Trung Hoa đã vạch ra một phương hướng mới trong việc phát triển canh tân quân đội Trung Quốc nhất là về hải quân cho phù hợp với nhu cầu và tình hình chuyển biến trong khu vực cũng như trên toàn cầu nói chung.

Với một nền kinh tề đang phát triển mạnh và chiều hướng ngày càng lệ thuộc vào các tuyến vận chuyển đường biển từ Đông Bắc Á qua Ấn Độ Dương (vào vùng vịnh Persian và vùng vịnh Aden), để vận chuyển hàng hóa cung ứng cho khu vực Phi Châu và Âu Châu, cũng như thu mua tại đây các nguồn nguyên- nhiên liệu cấn yếu cho nhu cầu sản xuất chế biến hàng xuất khẩu và xây dựng hạ tầng cơ sở của Trung Hoa (95% dầu thô Trung Quốc nhập khẩu từ Trung Đông và Phi châu được chuyển vận qua đường biển- Jane’s Intelligence Review), hải quân Trung Quốc đã được ưu tiên nhanh chóng phát triển để bảo vệ các tuyến giao thông hàng hải huyết mạch, quan yếu cho nền an ninh kinh tế- chính trị của Trung Hoa.

Nổi lo sợ ám ảnh nặng nề nhất của Hoa lục là khu vực biển cận duyên, vùng biển nằm trong chuỗi hải đảo thứ nhất ( chạy từ quần đảo Aleutians từ phía bắc trải dài vế phía nam qua Đài Loan, Phi Luật Tân, và Borneo) bị phong tỏa. Vì nếu tình huông nầy xảy ra, toàn bộ vùng công nghiệp-thương mãi chủ yếu của nền kinh tế Trung Hoa hiện nay đặt tại các tỉnh duyên hải sẽ bị rối loạn kéo theo sự sụp đổ khó tránh khỏi của kinh tế Trung Hoa (cùng bùng phát những bất ổn xáo trộn rất nguy hiểm cho xã hội Trung Quốc) do thiếu nguyên-nhiên liệu cần yêu cho nhu cầu sản xuất- xuất khẩu, cũng như ảnh hưởng đến vấn đề chuyển vận hàng hóa thành phẩm phân phối cho các thị trường trên thế giới ( nói chung mọi sự bế tắc trên tuyến hàng hải từ Đông Bắc Á qua Ân Độ Dương để tới vùng vịnh Persian đều gây tác hại nghiêm trọng cho kinh tê Trung Hoa!). Thêm vào đó là yêu tố an ninh-quốc phòng: sự vỡ vụn của vùng cận duyên sẽ tác động lên khả năng phòng thủ của Trung Hoa chống lại mọi sự tiến công từ vùng biển vào lục địa Trung Hoa (như đã từng xảy ra trong quá khứ!). Đó chính là nguyên nhân đã buộc Bắc Kinh phải đặt nặng vấn đề phòng thủ tại khu vực nầy với việc phối trí một lực lượng lớn tiềm thủy đỉnh tấn công loại tối tân nhất của Hoa lục trang bị các loại ngư lôi cao tốc, các hỏa tiển ‘cruise’ chống hạm, và hàng ngàn hỏa tiển địa không, địa hải tầm trung (kể cả loại DF21Ds) với các bệ phóng lưu động trên bờ, cùng hàng trăm chiến đấu cơ hiện đại với tầm hoạt động bao trùm toàn bộ khu vực nhằm ngăn chặn mọi sự tiếp cận vùng biển hiểm yếu nầy của các lực lượng hải quân thù địch.

Với quan điểm về chủ quyền trên đại dương hoàn toàn khác biệt với Hoa Kỳ và thế giới, Trung Quốc đã gây những quan ngại không nhỏ cho cộng đồng thế giới trong vấn đề tự do lưu thông hàng hải trên các thủy lộ quốc tế, cũng như cách lý giải tùy tiện các luật lệ về biển của Liên Hiệp Quốc. Theo quan niệm của Bắc Kinh, thì vùng biển cận duyên (near seas) của một quốc gia (như Trung Hoa) chính là phần lãnh thổ nối dài của quốc gia đó, hay còn gọi là phần ‘đất xanh’ (nation’s blue soil), thuộc chủ quyền thừa kế hiển nhiên, không thể tranh tụng của quốc gia nầy (China’s Ocean Development Report). Theo cách lý giải đó, thì toàn bộ vùng cận dương trong chuỗi đảo tuyến một thuộc chủ quyền tài phán của Trung Hoa, và hải quân Trung Quốc có nhiệm vụ bảo vệ khu vực đặc quyền nầy chống lại mọi tranh tụng về chủ quyền của các quốc gia khác trong khu vực ( Nhật, Nam Hàn, Việt Nam, Mã Lai, Brunei và Phi Luật Tân) cũng như hạn chế mọi hoạt động có tính cách quân sự của lực lượng hải quân Hoa Kỳ và các nước đồng minh trong khu vực đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý của Trung Hoa. Theo các chiến lược gia Trung Quốc thì vùng cận dương của một nước không phải là một hải lộ chung dành cho việc giao thương quốc tế hay điều động lực lượng quân sự của các quốc gia khác, mà chỉ là phần lãnh thổ kéo dài ra biển khơi của quốc gia đó (Dean Cheng-The Heritage Foundation)!

Quan điểm chiến lược phòng thủ từ biển xa (offshore defense) với việc khống chế vùng biển nằm trong chuỗi hải đảo tuyến một (Đông Hải, Hoàng Hải và Nam Hải…) còn phục vụ cho ý đồ chiến lược mở rộng vùng ảnh hưởng quyền lực cũng như triển khai các lực lượng quân sự viễn chinh (power projection) sâu vào vùng biển Thái Bình Dương ngoài chuỗi hải đảo tuyến hai, và vào vùng biển Ấn Đô Dương, thủy lộ giao thông trọng yếu nối liền châu Á-Thái Bình Dương với Trung Đông và lục địa Phi châu, đồng thời kiểm soát được vùng yết hầu chiến lược Malacca, nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương. Thêm vào đó, với lực lượng hải quân Trung Hoa có thể đột phá qua được vòng đai phòng thủ tuyến một, các quốc gia Đông Bắc Á (Nhât, Nam Hàn, Đài Loan), Đông Nam Á (Việt Nam, Phi, Nam Dương, Mã Lai, Tân Gia Ba…) sẽ bị áp lực nặng nề cả về kinh tế lẫn quân sự, vì Trung Quốc có thể kiểm soát chi phối mọi hoạt động trên tuyến đường giao thông liên lạc huyết mạch trên biển, quan yếu cho sự sống còn của những quốc gia nầy.

Mục tiêu tối hậu của Trung Quốc là khống chế toàn bộ vùng tây bộ Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, đẩy bật hải quân Hoa Kỳ ra khỏi khu vực châu Á-Thái Binh Dương, để độc chiếm địa bàn chiến lược trọng yêu nầy. Việc xây dựng một căn cứ hải quân lớn tại phía nam đảo Hải Nam với các phương tiện ngầm dưới mặt đất có thể chứa đến 20 tiềm thủy đỉnh diesel và nguyên tử ( lực lượng tấn công chiến thuật và răn đe chiến lược thuộc hạm đội Nam Hải, hạm đội lớn nhất của Trung Hoa đóng tại đây), có thể nhanh chóng tiến vào vùng Nam Hải để tuần tra khu vực eo biên Malacca hay mở đường tiến ra biển sâu. Đối với Bắc Kinh, biển Đông hay Nam Hải có một giá trị chiến lược quan yếu cả về quân sự lẫn kinh tế, với một trữ lượng dầu khí rất lớn, một nguồn hải sản dồi dào và nhất là một vùng biển mà hơn 60% sản lượng hàng hóa trao đổi trên thế giới và hơn 80% lượng dấu thô cung ứng cho Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đài Loan hàng năm đều được vận chuyển ngang qua khu vực nầy. Khống chế được biển Đông, Trung Quốc có thể làm chủ được một mỏ vàng đen và khí đốt mà theo ước tính của các chuyên gia dầu khí Trung Hoa, có thể cung cấp nguồn năng lượng cần yếu cho Trung Quốc trong vòng 60 năm. Khống chế được Nam Hải sẽ giúp Trung Quốc tạo được áp lực về chính trị-kinh tế-ngoại giao lên các lân bang trong khu vực và biến khu vực đầy năng động về kinh tế của thế kỷ thứ 21 nầy thành một khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề của Bắc Kinh trong lĩnh vực chính trị-đối ngoại , một hình thức ‘Trung lập hóa kiểu Phần Lan--Finlandization’ của một quốc gia nhỏ bé tại Bắc Âu đôi với nước láng giềng hùng mạnh Liên Sô trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh vừa qua ( Robert Kaplan—Stratfor).

Ấn Độ Dương là một liên thủy lộ hai chiều vận chuyển hàng hóa-năng lượng của thế giới, với dầu thô và khí đốt cùng các nguyên liệu, quặng mỏ được chuyên chở từ vùng bán đảo À Rập, Iran và châu Phi về vùng Đông Bắc Á đang phát triển với tốc độ chóng mặt về kinh tế, và đồng thời cũng chuyên chở ngược lại những hàng hóa tiêu thụ phẩm, mà phần lớn được sản xuất tại Trung Hoa phân phối cho toàn Trung Đông, Phi và Âu châu. Ý thức được tầm vóc quan trọng của Ấn Độ Dương, Trung Quốc đã đầu tư vào việc phát triển xây dựng một hệ thống các bến cảng, kho tiếp vận, các tiền đôn quan sát… để tăng cường sự hiện diện chiến lược của Trung Hoa tại các quốc gia láng giềng của Ấn Độ, nằm dọc theo vùng duyên hải Ấn Độ Dương, qua việc gia tăng trợ giúp kinh tế, tài trợ các dự án phát triển của các quốc gia nầy. Với các hải cảng và kho tiếp vận tại Kennya, Seychelles, Mauritius, Pakistan (Gwadar), Sri Lanka (Hambantota và Colombo), Bangladesh (Chittagong), Myanmar (Sittwe), Hoàng Sa và Hải Nam, đã như một xâu chuỗi ngọc (the string of pearls) trải dài từ vùng Nam Hải qua tận vùng biển Ả Rập dọc theo tuyến đường vận chuyển nguyên-nhiên liệu từ Phi châu và Trung Đông về tới bờ biển Trung Hoa. Với các cảng nước sâu đang được xây dựng tại Pakistan và Burma ( nhằm trung hòa mối đe dọa truyền thống về việc phong tỏa eo biển Malacca), cùng sự gia tăng các chuyến viếng thăm cảng trong khu vực (port calls), bên cạnh sự hiện diện thương xuyên của hai khu trục hạm của hải quân Trung Hoa tại vịnh Aden trong khuôn khổ hợp tác phòng chống hải tặc, Trung Quốc đã thể hiện rõ rệt ý đồ chiến lược siết chặt vòng vây, cũng cố sự hiện diện của mình tại vùng ‘ao nhà’ của Ấn Độ, một đối thủ truyền thống nặng ký của Bắc Kinh trong cuộc đua tranh giành quyền bá chủ khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương của hai cường quốc châu Á khổng lồ. Và lần hồi với sự phát triển và hiện đại hóa nhanh chóng của hải quân Trung Hoa, các hạm đội Hoa Kỳ đang hoạt động tại khu vực sẽ là mục tiêu kế tiếp cần phải thanh toán loại trừ, để Hoa lục độc chiếm địa bàn chiến lược trọng yếu của thế kỷ thứ hai mươi mốt nầy!

 


Với một Trung Hoa ngày càng tỏ ra hung hãn ngang ngược, đe dọa áp chế các nước láng giềng đồng minh của Mỹ, và nhất là đã lộ rõ tham vọng bá quyền nước lớn, với ý đồ hất chân người Mỹ ra khỏi khu vực châu Á-Thái Bình Dương, một khu vực đây năng động, với một tiềm năng kinh tế tiềm tàng, một thị trường tiêu thụ nhiều hứa hẹn cho một nước Mỹ vẫn còn đang choáng váng sau cơn đại khủng hoảng tài chánh-tín dụng năm 2008, đã là một thách thức mà Washington không thể nào xem nhẹ được!

Một trong những thách thức lớn về quân sự đối với Washington là sự gia tăng khả năng ‘chống tiếp-cận’ của lực lượng Giải Phóng Quân Trung Quốc trong thời gian vừa qua nhằm đối phó với mọi sự triển khai lực lượng quân sự tác chiến viễn chinh của quân lực Mỹ (power projection) tại địa bàn tây bộ Thái Bình Dương (Nam Hải, Đông Nam Á, Đông Hải-Hoàng Hải, Đông Bắc Á…), và nhất là đe dọa nặng nề các cứ điểm quân sự chiến lược của Hoa Kỳ tại khu vực chuỗi hải đảo tuyến hai (Second Island Chain) kéo dài từ Nhật Bản tới tận quần đảo Guam. Trong thập niên vừa qua, với việc phát triển, hoàn thiện và sản xuất hàng loạt các loại hỏa tiển đạn đạo tầm trung với sức công phá và độ chinh xác cao, cùng các phương tiện tấn công khác, Trung Quốc đã hoàn toàn có khả năng hủy diệt và trung hòa mọi hoạt động của các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ nằm trong khu vực vành đai bao quanh Trung Quốc. Sự chuyển hướng chiến lược của Washington về vùng châu Á-Thái Bình Dương không ngoài mục đich bảo vệ các quyền lợi quan yếu lâu dài của Hoa Kỳ cũng như trấn an các đồng minh thân cận của người Mỹ tại đây về quyết tâm của Hoa Kỳ trong việc bảo vệ sự an ninh ổn định của khu vực chống lại mọi tham vọng bành trướng bá quyền, cùng việc đe dọa áp chế các lân bang, bất chấp mọi công ước, luật lệ quốc tế hiện hành, của người Trung Hoa.

Một trong những đối sách của quân lực Mỹ để chống lại hình thái chiến tranh ‘bất cân xứng-chống tiếp-cận’ là khái niệm chiến lược ‘Hợp đồng tác chiến Không-Hải’ (Air-Sea battle concept) được chính thức áp dụng kể từ tháng 11, năm 2011 với việc thành lập một cơ quan trực thuộc bộ quốc phòng Hoa Kỳ, đặc trách việc nghiên cứu thực thi chiến lược nầy. Theo các chiến lược gia Trung Hoa, trong trường hợp xung đột bùng nổ, Quân Giải Phóng Trung Quốc sẽ mở những đợt tấn công phủ đầu (pre-emptive strikes) đại qui mô bằng các loại vũ khí tấn công nhanh chính xác ( như hỏa tiển ‘cruise’ và đạn đạo, tiềm thủy đỉnh…) để làm tê liệt lực lượng quân đội Hoa Kỳ đóng tại các căn cứ hay đang hoạt động trong địa bàn tây bộ Thái Bình Dương; phong tỏa và cầm chân các lực lượng hải-không quân Hoa Kỳ không để xâm nhập vào tầm tấn kích lục địa Trung Hoa; phá hủy các hệ thống điều phối-chỉ huy tác chiến đấu não (C4IRS) và các hệ thống tiếp vận (logistics) cần yếu cho nhu cầu chiến trường của quân đội Hoa Kỳ. Tựu trung, chiến lược ‘chống tiếp-cận’ của Trung Quốc nhằm mục đích gây những tổn thất nặng nề cho quân đội Hoa Kỳ trong khoảng thời gian ngắn ngủi vào lúc khởi đầu cuộc xung đột, trì hoãn khả năng tiếp cận chiến trường của lực lượng can thiệp nhanh của Hoa Kỳ tăng phái cho các chiến trường cũng như để chứng tỏ sự bất lực của Hoa Kỳ trong việc bảo vệ các đồng minh khu vực của mình! Một khi đã thanh toán xong mục tiêu, Trung Quốc đặt người Mỹ vào một tình thế tiến thoái lưỡng nan, hoặc phải chấp nhận một sự viêc đã rồi hay phải trả một giá rất đăt để chiêm lại những mục tiêu đã mất!
Căn bản của chiến lược ‘Hợp đồng tác chiến Không-Hải’ là sự phối hợp chặt chẽ giữa hai lực lượng không quân và hải quân trên thực địa chiến trường của vùng châu Á-Thái Bình Dương, với mỗi quân chủng sẽ hổ trợ lẫn nhau để hoàn tất nhiệm vụ được giao phó. Không lực Hoa Kỳ sẽ tiến hành các hoạt động làm ‘mù’ hệ thống vệ tinh quan sát đại dương của quân đội Trung Quốc, ngăn chặn việc xác định tọa độ mục tiêu của các nhóm hàng không mẫu hạm Mỹ, giúp các chiến hạm Hoa Kỳ có thể tự do xoay xở trên vùng biển rộng. Các chiến hạm hải quân khi cần thiết có thể trợ giúp lực lượng không quân hoàn tât sứ mạng nầy. Trong khi đó, các khu trục hạm trang bị hệ thống phòng thủ chống phi đạn Aegis sẽ hỗ trợ những hệ thống chống phi đạn khác, bảo vệ các cứ điểm quân sự trên đất liền và Nhật Bản. Các tiềm thủy đỉnh và hàng không mẫu hạm sẽ tiến hành các đợt tấn công phá hủy mạng lưới phòng không liên kết (IADS) của giải phóng quân Trung Quốc, mở đường cho các máy bay tiêm kích và oanh tạc của không quân đánh phá các mục tiêu trong nội địa Trung Hoa. Các oanh tạc cơ chiến lược của không quân Hoa Kỳ sẽ tấn công hủy diệt những hệ thống kiểm tra-quan sát vùng biển tầm xa đặt trên các căn cứ trên bộ và các bệ phóng hỏa tiển đạn đạo tầm trung (cả hai loại địa- hải DF21Ds hay địa-địa) của quân đội Trung Quốc để mở rộng tầm hoạt động của các chiến hạm hải quân và hạn chế những cuộc tấn công bằng hỏa tiển công phá vào những căn cứ của quân đội Hoa Kỳ và đồng minh trên bộ. Máy bay chiến đấu trên các hàng không mẫu hạm sẽ từng bước thanh toán các chiến đấu cơ và phi cơ trinh sát thám thính của quân đội Trung Quôc để các máy bay tiếp tế nhiên liệu trên không (và các loại yểm trợ tiếp vận) của Hoa Kỳ có thể hoạt động được. Đồng thời các oanh tạc cơ tàng hình B2s và B1s, B52s… sẽ tham gia các hoạt động chống tàu ngầm địch với các chiến hạm hải quân, qua việc rải thảm các loại thủy lôi để phong tỏa từ xa các căn cứ hải quân của giải phóng quân Trung Quốc. Một yêu tố quan trọng khác là các cứ điểm quân sự của Hoa Kỳ (phi trường, hải cảng…) nằm trong tầm hoạt động của hỏa tiền Trung Quốc, phải được cũng cố để có thể chịu đựng được những đợt tấn công phủ đầu ác liệt ban đầu của địch quân, hạn chế tối đa mọi thiệt hại cho các lực lượng trú đóng, để sẵn sàng cùng các đơn vị không- hải quân đồn trú ngoài tầm sát hại của hỏa tiển địch, mở những cuộc phản công chớp nhoáng nhằm tiêu diệt tiềm lực tác chiến của giải phóng quân Trung Hoa (AirSea battle: A point-of-Departure Operational Concept—CSBA).

Song song với khái niệm ‘Hợp đồng tác chiến Không-Hải’, Washington cũng đặt nặng vấn đề liên kết với các đồng minh và các quốc gia bạn trong vùng như Nhật Bản, Úc, Ấn Độ, ASEAN để tạo những áp lực quân sự bao quanh Trung Hoa. Việc phối trí luân phiên 2500 TQLC Hoa Kỳ tại căn cứ chiến lược Darwin, và các lực lượng Không-Hải quân Hoa Kỳ sẽ có mặt tại các căn cứ vùng bắc Úc ( ngoài tầm công phá của các hỏa tiển đạn đạo Trung Quốc), và trên một đảo nhỏ (Cocos Island) thuộc vùng Ấn Độ Dương, cũng như một số chiến hạm tác chiến cận duyên, LCS tối tân tại Singapore, đã nói lên quyết tâm của Washington trong việc bảo vệ sự tự do lưu thông hàng hải trên các thủy lộ giao thông quốc tế huyết mạch tại vùng tây bộ Thái Bình Dương, nhất là bảo vệ eo biển chiên lược Malacca chống lại mọi ý đồ khống chế khu vực của Trung Hoa. Bên cạnh đó việc tập trận huấn luyện với hải quân các nước Nam Dương, Việt Nam, Phi Luật Tân… cũng nhằm mục đích tạo cho các quốc gia nầy khả năng phối hợp tác chiến khi cần với hải quân Hoa Kỳ, và thực tập các phương thức ‘chống tiêp-cận’ (A2/AD) cho riêng từng quốc gia, với mục tiêu răn đe, hay để sẵn sàng đương đầu với một lực lượng hải quân hùng hậu hơn nhiều của Trung Hoa trong những tình huống xung đột xảy ra. Những tuyên bố mới gần đây của chính quyền Obama đã khẳng định quyết tâm quay trở lại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ qua việc ưu tiên phân phối các phương tiện và khí tài quân sự cho vùng tây bộ Thái Bình Dương mặc dầu kinh phí quốc phòng thường niên của Hoa Kỳ đang bị cắt giảm.

Với một Âu châu đang chìm đắm trong cơn khủng hoảng công nợ quốc gia, với một nước Mỹ mà kinh tế vẫn còn lảo đảo chưa thực sự phục hồi sau cơn bão lốc tài chánh-tín dụng năm 2008, châu Á-Thái Bình Dương đã nổi lên như một vùng đất hứa màu mỡ, tiềm tàng khả năng về mậu dịch-thương mãi, một thị trường tiêu thụ rộng lớn có thể giải quyết vấn nạn thất nghiệp đang đè nặng lên đời sống kinh tế-xã hội Hoa Kỳ, đang làm điêu đứng các giới chức thẩm quyền trong chính quyền Obama. Bên cạnh đó, một Trung Hoa với chính sách kinh tế bảo hộ mậu dịch, ‘beggar-thy-neighbor—làm-nghèo-hàng-xóm!’ (với việc kềm giá đông nhân dân tệ để tạo lợi thế cho cạnh tranh xuất khẩu; hạn chế hàng hóa nhập khẩu qua những rào cản mậu dịch để bảo vệ thị trường nội địa) đã làm mất cân đối nghiêm trọng nên kinh tế-tài chánh toàn cầu, nhất là của Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu châu, đồng thời gây lo lắng, quan ngại cho các quốc gia trong khu vực do chính sách mậu dịch và tiền tệ của Trung Hoa đã gây những tác động tiêu cực lên lãnh vực cạnh tranh xuất khẩu của các quốc gia nầy. Trong bối cảnh đó, Hiệp Ước Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership-TPP) đã được đề xướng và thảo luận bởi đại diện của 9 quốc gia (Úc, Brunei, Chile, Mã Lai, Tân Tây Lan, Peru, Tân Gia Ba, Việt Nam và Hoa Kỳ) như một thỏa ước mậu dịch tự do mẫu mực của thế kỷ 21 nhằm xóa bỏ hẳn các rào cản trong lãnh vực mậu dịch và đầu tư, đồng thời cũng cố chặt chẽ các qui định luật lệ về thương mãi giữa các quốc gia hội viên. Với Nhật Bản, Canada và Mexico tuyên bố có ý định tham gia đàm phán để gia nhập TPP, hiệp ước này sẽ ảnh hưởng lên một địa bàn rộng lớn với dân số hơn 600 triệu người với một tổng sản lượng kinh tế hàng năm lên đến trên 20,000 tỷ đô la.

Các thành viên của Hiệp Ước Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương đã phát thảo những điều lệ qui định mới phản ảnh tầm vóc quan trọng của nền kinh tế đang vươn lên của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, vai trò của khu vực trong dây chuyền sản xuất và cung ứng hàng hóa tiêu thụ cho thế giới, cùng tiếp nhận và phân phối những nguồn vốn đâu tư đến từ bên ngoài ( hiện nay Trung Quốc vẫn là trung tâm sản xuất và cung cấp hàng tiêu thụ cho toàn thế giới!). Ngoài các qui định về kiểm tra-điều phối, quản lý dây chuyền sản xuất, sở hữu bản quyền (intellectual property), đầu tư sản xuất, và khuyến khích khu vực tư doanh, Hoa Kỳ cũng đã đề nghị những biện pháp nhằm kiểm soát chặt chẽ những công ty quốc doanh đấy thế lực (SOEs--state-owned enterprises, được sự tài trợ của các chính phủ như trong trường hợp của Trung Quốc và một số nước khác…) để ngăn ngừa sự mất cân đối của thị trường do sự cạnh tranh bất chính, độc quyền áp chế của các công ty quốc doanh khổng lồ nầy đối với các công ty tư nhân. Tựu trung thì đây là một hiệp ước tự do mậu dịch với tiêu chuẫn cao, vạch ra những mẫu mực cho vần đề kiểm tra-điều phôi, đầu tư và tác quyên sản phẩm (IP). Hiệp ước TPP cũng bao gồm những tiêu chuẩn về lao động (mức lương công nhân, bảo hộ lao động…), về môi trường, ưu đãi và tạo thuận lợi trong hoạt động kinh doanh thương mãi cho các xí nghiệp tư doanh nhỏ và các công ty tầm trung, đổng thời vạch ra những qui định, điều lệ nhằm kiểm tra phương cách hoạt động của các công ty quốc doanh lớn được sự tài trợ và bảo vệ của các chính phủ nhằm tạo một ‘sân chơi bình đẳng’ hơn (level playing field) trong lãnh vực mậu dịch-thương mãi cho các quốc gia hội viên ( TPP--Brooking).

Một yếu tố khác không kém phần quan trọng của TPP là yếu tố chính trị-xã hội. Theo ngoại trưởng Hillary Clinton thì mục tiêu của TPP không những chỉ theo đuổi việc phát triển thuần về kinh tế mà còn theo đuổi việc phát triền về phương diện chính trị-xã hội, chú trọng vào việc phát huy và đề cao sự cởi mở, tự do, sự công khai minh bạch và công bằng trong xã hội. Song song với mũi tiến công về lãnh vực quân sự- ngoại giao để trấn an các nước đồng minh và bạn bè trong khu vực, Washington đã xử dụng hiệp ước TPP như một mũi tiến công thứ hai về kinh tế-chính trị (trong chiến lược quay trở lại châu Á-Thái Dương— Asia-Pacific Pivot) nhằm trung hòa ảnh hưởng đang gia tăng của Trung Quốc trong khu vực do sự lệ thuộc về kinh tế của các quốc gia trong vùng vào Trung Hoa. Với việc đề cao tự do mậu dịch, tôn trọng luật lệ đề ra trong các lãnh vực hối đoái tiến tệ, tác quyền, tiếp cận thị trường, bảo vệ lao động, môi sinh, cùng các cải cách về chính trị-xã hội, hiệp ước tự do mậu dịch TPP sẽ là một sự chọn lựa cần thiết để thay thế cho mô hình giao dịch thương mãi với những rào cản mậu dịch, kềm giá giá tiền tệ, tài trợ xuất khẩu, bóc lột lao động, và tạo ra những bất công xã hội của Trung Hoa hiện nay. Trong chiều hướng tìm kiếm những phương thức để vượt thoát sự trì trệ bế tắc trong vấn đề tăng trưởng kinh tế (Middle Income Trap) của các quốc gia đang phát triển với mức lợi tức trung-lưu (từ 1000 đô đên 12,000 đô/năm bình quân trên mỗi đâu người, tính theo thời giá năm 2010-World Bank), các quốc gia Á châu kể cả Ấn Độ và Trung Quốc trong tương lai cũng sẽ phải tìm về với TPP như một giải pháp tối ưu nhằm đạt tới tầm vóc của các quốc gia mà nền kinh tế đã phát triển toàn diện ( developed countries).

Đối mặt với những khó khăn thách thức do các chuyển biến phức tạp của tình hình thế giới hiện nay, với sự suy sụp của nền kinh tế Hoa Kỳ do cuộc khủng hoảng tài chánh-tín dụng năm 2008; do hai cuộc chiến dai dẳng tốn hao xương máu và công quỹ quốc gia tại Iraq và Afghanistan (trên 3,000 tỷ đô la và hàng ngàn tổn thất nhân mạng); với những điểm nóng đang âm ỉ lửa tại Iran, Bắc Triều Tiên, Syria, nhất là với sự trỗi dậy hung hăng của một nước Trung Hoa độc tài cộng sản đầy tham vọng, đang muốn khống chế toàn bộ khu vực Thái Bình Dương để mưu đồ tranh bá với siêu cường Hoa Kỳ trên vũ đài quốc tế. Thêm vào đó là sự cắt giảm ngân sách quốc phòng thường niên (khoảng 500 tỷ đô cho thập niến 2010’s) đã ảnh hưởng nặng nề đến khả năng của quân lực Hoa Kỳ trong việc duy trì hòa bình và bảo vệ các quyền lợi quốc gia thiết yếu của nước Mỹ trên toàn thế giới; giới lãnh đạo tại Washington đã quyết định hình thành và triển khai một chiến lược mới phù hợp hơn với tình hình thế giới hiện tại , nhằm dùy trì ngôi vị thống trị độc tôn trên toàn cầu của nước Mỹ qua việc xử dụng những hình thái và phương tiện chiến tranh tối cần yếu cho việc giữ vững ưu thế tuyệt đối về không-hải quân, về lãnh vực chiến tranh tin học và không gian…tại những địa bàn trọng yếu trên toàn thế giới, nhất là tại vòng cung chiến lược trải dài từ vịnh Ba Tư, qua Ấn Độ Dương, Nam Hải tới tận vùng tây bắc Thái Bình Dương mà trong đó biển Đông và các eo biển chiến lược Malacca và Hormuz là những mục tiêu quan trọng cần phải bảo vệ. Điều đó có nghĩa Hoa Kỳ trước mắt, phải kiểm soát toàn bộ vùng tây bộ Thái Bình Dương rộng lớn ( nơi qui tụ những nến kinh tế hàng đầu của thế giới, với một tẩm ảnh hưởng rất quan trọng cho tương lai vững mạnh phồn vinh của đất nước Mỹ trong thế kỷ 21), nơi có các đồng minh thân cận cũng như một Trung Hoa Cộng Sản đầy hung hãn, đang muốn thách thức và thay đổi các định chế và trật tự thế giới hiện hành. Nói một cách khác, phải thực hiện việc bao vây chiến lược toàn diện hay ‘hợp tác trên thế mạnh (!)’, nhằm ngăn chặn những ảnh hưởng đang lan rộng một cách đáng quan ngại của Bắc Kinh trong khu vực, qua các đôi sách về quân sự-kinh tế lẫn chính trị-ngoại giao.

Với việc phối trí lực lượng quân sự tại Darwin, bắc Uc, và tại Singapore, Hoa Kỳ có thể nhanh chóng triển khai các lực lượng tác chiến đặc nhiệm vào vùng Nam Hải trong những tình huống cần thiết, để bảo vệ các thủy lộ giao thông huyết mạch quan yếu cho toàn khu vực, hay phong tỏa eo biển chiến lược Malacca trong trường hợp xung đột vũ trang bùng phát với Hoa Lục, cũng như có thể kiểm soát cả những thông lộ dẫn vào Ấn Độ Dương, vùng vịnh Persian và eo biên Hormuz. Bên cạnh đó, một hiệp ước tự do thương mãi với các đối tác tại khu vực (TPP) nhằm mục đích hỗ trợ cho mũi nhọn chiến lược quân sự- ngoại giao, qua việc hình thành một khu vực kinh tế rộng lớn trong đó việc trao đổi mậu dịch tự do, bảo vệ tác quyền, môi sinh, quyền lợi lao động và tuân thủ theo các nguyên tắc điêu lệ thương mãi là những điều kiện tiên quyết phải tuân theo đê được chấp thuận là một thành viên trong khôi liên minh mậu dich nầy. Trung Quốc với chính sách kinh tế bảo hộ mậu dịch sẽ phải thay đổi luật chơi nếu không muốn bị cô lập và mất dần thị trường tiêu thụ chính yếu, cùng những công nghệ chuyển giao cần thiết, để đột phá qua khỏi bức rào cản làm bề tắc sự tăng trưởng của các nền kinh tế với lợi tức trung lưu (middle-income trap) như tình trạng kinh tê Trung Hoa hiện nay.

Với tình hình khó khăn về kinh tế-chính trị hiện tại, Trung Hoa sẽ tỏ ra rất nguy hiểm cho các quốc gia trong khu vực, qua các chính sách đường lối dân tộc chủ nghĩa cực đoan và bành trướng hiếu chiến để giải tỏa những áp lực nội bộ đang đè nặng bên trong. Điển hình là các cuộc xung đột về lãnh thổ với Nhật Bản, Nam Hàn, Việt Nam trong hai năm qua, và với Phi Luật Tân trong hai tuần lễ vừa rồi tại bãi đá ngầm Scarborough ngoài khơi biển Phillipines. Với chính sách bá quyền Đại Hán nhằm phục hồi vị thế của một đế quốc Trung Hoa hùng mạnh hàng ngàn năm về trước, cùng với chiến lược bành trướng ra biển khơi để bảo vệ những thủy lộ vận chuyển nguyên-nhiên liệu tối cần yếu cho sự sống còn của nền kinh tế Trung Hoa hiện nay, và nhất là để mở rộng vùng ảnh hưởng quyền lực về hướng đại dương, Trung Quốc chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi một sự đối đầu vế quân sự với Hoa Kỳ, một cường quốc hàng hải đã vượt sóng trùng dương từ bao thế kỷ nay. Tất cả những quốc gia từng thách thức quyền lực độc tôn của Hoa Kỳ trên biển cả (Tây Ban Nha, Đức, Nhật) đều bị đánh bại một cách thảm hại. Viễn ảnh tương lai của một nước Trung Hoa cộng sản ắp đầy tham vọng rồi cũng chỉ là một viễn ảnh ảm đạm mịt mờ!! .

 

Bang Pham
California, Tháng Tư Năm Hai Ngàn Mười Hai

 

 

 

 

 

 


Email : ctctkhoa4@yahoo.com