TRUNG QUỐC VÀ GIẤC MỘNG SIÊU CƯỜNG

Sự suy yếu của siêu cường Hoa Kỳ sau cuộc khủng hoảng tín dụng vừa qua đã như một cơ hội ngàn năm một thuở cho con rồng Trung Quốc uốn mình bay vút lên cao.

Ngập chìm trong biển nợ, hậu quả của hai cuộc chiến hao mòn, dai dẳng tại Iraq và Afghanistan, cũng như chính sách kinh tế tài chánh sai lầm, quá buông thả; đề cao lối sống tiêu thụ xa hoa, và khuyến khích ‘các sáng-kiến cho lợi-nhuận cá-nhân’, nước Mỹ đã lâm vào tình trạng hụt hẫng, mất cân bằng về kinh tế lẫn uy tín chính trị trên chính trường quốc tế. Chủ nghĩa Tư Bản và Mậu Dịch Tự Do, từng một thời là biểu tượng cho sự phồn thịnh và sáng tạo của người Mỹ đã trở thành một tác nhân chính cho tình trạng khủng hoảng kinh tế thế gìới tồi tệ hiện nay! Trong bối cảnh suy tàn của các cường quốc kinh tế phương Tây, Trung Quốc đã nổi lên như một biểu tượng mới cho sự ổn định phồn vinh nhờ một đường lối kinh tế ‘Tư-Bản Hoạch-Định’ (?), kết hợp giữa kinh tế thị trường tự do và sự hoạch định chính sách của giới lãnh đạo chóp bu trong Chính Trị Bộ Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Sau gần ba mươi năm với những kế hoạch kinh tế ‘đại nhảy vọt’, nhất là với cuộc Cách Mạng Văn Hóa đẫm máu nhằm mục đích thanh trừng và tiêu diệt những phần tử chống đối có tư tưởng xét lại trong nội bộ đảng CS Trung Hoa, Mao Trạch Đông đã đẩy đất nước Trung Quốc vào một tình trạng lạc hậu, suy kiệt về kinh tế; băng hoại, rệu rã về mặt dân sinh-xã hội! Sau cái chết của lãnh tụ đảng họ Mao, ngày 18 tháng 12 năm 1978, đại hội lần thứ ba của Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc được triệu tập tại Bắc Kinh, với sự nổi lên của nhà lãnh đạo có đầu óc cải cách thực dụng Đặng Tiểu Bình, con rồng Trung Hoa bắt đầu vươn mình thức giấc sau giấc đông miên dài hàng bao thế kỷ. Một mô hình kinh tế mới dành riêng cho Trung Quốc, đã được nhà lãnh đạo họ Đặng đề xướng và áp dụng triệt để trong việc canh tân và phát triển đất nước Trung Hoa. Một mô thức kinh tế kết hợp giữa kinh tế thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản và đường lối kinh tế trung ương hoạch định của đảng CSTQ trong đó các doanh nghiệp tư nhân và thị trường được thành lập để lần hồi chiếm giữ một vị trí trọng yếu trong sinh hoạt kinh tế quốc gia, nhưng sinh hoạt kinh tế lại không hoàn toàn lệ thuộc vào sự chi phối, quyết định của thị trường và của các doanh nghiệp tư doanh như trong nền kinh tế mậu dịch tự do của Hoa Kỳ hay các nước tư bản phương Tây, mà luôn luôn có sự kiểm soát, can thiệp và chỉ đạo chặt chẽ của chính quyền qua các cơ quan thẩm quyền có trách nhiệm.

Trong thập niên 80s, một cơ hội ngàn năm đã đến với người Trung Quốc khi các nước tư bản phương Tây nhất là Hoa Kỳ, trong nỗ lực kiếm tìm phương cách chế ngự căn bệnh lạm-phát trầm kha từ bao thập niên nay vẫn hoành hành trong xã hội tư bản, do nguồn cung ứng hàng hóa không đáp ứng nổi nhu cầu đòi hỏi quá lớn lao của giới tiêu dùng; hậu quả là giá cả sinh hoạt ngày càng tăng cao, gây khó khăn cho đời sống của người dân, nhất là giới lao động tay chân với nguồn thu nhập tương đối khá thấp tính theo mức thang lợi tức. Thi trường nhân công rẻ mạt và đầy triển vọng của TQ, đã như một đáp số cho vấn đề gây nhức nhối kinh niên cho các nhà hoạch định chính sách tư bản. Cộng thêm vào đó, nguồn lợi nhuận lớn lao do giá thành sản phẩm hạ giảm rất nhiều khi hàng hóa được sản xuất trực tiếp tại đây đã lôi cuốn những nhà tài phiệt Hoa Kỳ và Âu châu đổ những nguồn vốn khổng lồ vào thị trường béo bở TQ, xây dựng hàng loạt những cơ xưởng sản xuất, đầu tư những máy móc, trang thiết bị tối tân; huấn luyện một đội ngũ công nhân tuy thông minh nhưng còn non kém về kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất; và nhất là việc chuyễn giao những kỹ thuật công nghệ tân tiến mà với trình độ của giới khoa học kỹ thuật Trung Hoa lúc đó còn phải mất thêm nhiều thập niên và những chi phí không nhỏ mới có thể đạt tới được!

Các nhà lãnh đạo cải cách TQ đã không hề bỏ lở dịp may ngàn vàng này. Với sự quản lý khéo léo, chặt chẽ, giới lãnh đạo Cộng Sản Trung Hoa, chỉ trong vòng gần ba thập niên, đã vực dậy một đất nước đang trên bến bờ sụp đổ sau ba mươi năm thực thi đường lối kinh-tế hoạch-định xã-hội-chũ- nghĩa (!), đưa đất nước Trung Hoa lên thành một cường quốc kinh tế đứng hàng thứ ba trên thế giới, với tổng sản lượng quốc gia (GDP) lên đến 4,236 tỷ đô năm 2008 (sau Nhật Bản : 4,977 tỷ đô; và Hoa Kỳ: 14,142 tỷ đô la), với mức tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm gần 10% tính từ 1978 đến nay (China’s Economic Conditions—Wayne M. Morrison, March 5, 2009- Congressional Research Service).

Song song với việc biến TQ thành một trung tâm sản xuất và cung ứng hàng hóa khổng lồ cho các nước tư bản phương Tây, chính quyền TQ thực thi chính sách kềm giá đồng nhân dân tệ đối với các ngoại tệ mạnh nhất là đồng đô la của Hoa Kỳ để duy trì lợi thế trong vấn đề mậu dịch quốc tế. Kết quả là hàng hóa xuất khẩu của TQ chiếm lĩnh dễ dàng thị trường của các nước tư bản phương Tây nhờ giá thành hạ giảm nhiều so với hàng hóa của các nước khác, đồng thời gây khó khăn cho hàng hóa nhập cảng vào thị trường TQ từ phía Hoa Kỳ và các nước Âu châu do giá thành sản phẩm quá cao đối với đại đa số người dân Trung Hoa!

Sự thặng dư mậu dịch của TQ đối với các nước đã giúp TQ tích lủy một trử lượng ngoại tệ dồi dào gần hai ngàn tỷ đô la, rất dễ dàng khuynh đảo thị trương kinh tế tài chánh thế giới nhất là thị trường tài chánh Hoa Kỳ trong tình hình suy sụp hiện nay của nền kinh tế Mỹ. Sự thâm thủng trong tương quan mậu dịch của Hoa Kỳ đối với TQ mà trong năm 2008 đã lên đến con số kỷ lục 268 tỷ đô la (US Census, Foreign Trade Statistics) đã làm suy yếu đồng đô la và lần hồi làm suy yếu nền kinh tế Hoa Kỳ do ngành công nghiệp sản xuất và chế tạo sản phẩm của Hoa Kỳ không thể nào cạnh tranh nổi với hàng giá rẻ của TQ, phải đi đến việc hoặc tự đóng cửa ngưng sản xuất, hoặc đưa công việc ra những nước có nguồn nhân công rẻ mạt để hạ giá thành sản phẩm với hậu quả là tỷ lệ thất nghiệp tăng cao trong nội địa nước Mỹ do hàng triệu công nhân bị mất việc làm. Tính từ 1998 đến 2008, ngành công nghiệp chế tạo sản phẩm của Hoa Kỳ đã sụt giảm 21% và mất dần khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới! Hoa Kỳ đang từ vị trí một cường quốc kinh tế số một trên thế giới, với một khả năng sản xuất và xuất khẩu hàng hóa không hề có đối thủ, đồng thời cũng là ông chủ nợ của toàn thế giới, trở thành một quốc gia ngập chìm trong biển nợ, và là một trung tâm khổng lồ tiêu thụ hàng hóa nhập cảng từ Trung Hoa với sự thâm thủng mậu dịch hàng năm lên đến hàng trăm tỷ đô la!!

“Vươn-lên-trong-hòa-bình” ( Peaceful Rise) đang là ‘khẩu hiệu tuyền truyền’ ngọt ngào, để đánh bóng cho chính sách đối ngoại hiện nay của TQ, nhằm trấn an dư luận thế giới, nhất là các nước Nam và Đông Nam Á đã từng có những kinh nghiệm không mấy gì tốt đẹp với người Trung Hoa ! Theo chủ trương này, TQ thực hiện việc phát triển kinh tế quốc gia, dựa vào trật tự thế giới đang có sẵn, trong hòa bình và hợp tác hổ tương với tất cả các nước trên thế giới; không xử dụng vũ lực để phục vụ cho quyền lợi riêng của quốc gia mình, và nhất là không can thiệp vào nội bộ của các quốc gia khác. Chiêu bài mỹ miều này thực chất chỉ là một thủ thuật để che dấu nanh vuốt của con rồng Trung Quốc trong bối cảnh mà TQ còn cần nhiều thời gian để phát triển đất nước, cũng cố sức mạnh kinh tế và quân sự, tăng cường uy tín ngoại giao, và nhất là khi siêu cường Hoa Kỳ tuy đã suy yếu nhưng vẫn còn những tiềm năng và ảnh hưởng rất lớn lao trên toàn thế giới.

Để cũng cố cho nền an ninh quốc gia và thực hiện tham vọng siêu cường của mình, TQ đã không ngần ngại gia tăng ngân sách quốc phòng để hiện đại hóa và phát triển lực lượng quân sự nhất là lực lượng hải quân, với một ý đồ chiến lược rõ rệt : bảo vệ thủy lộ chiến lược huyết mạch vận chuyễn hàng hóa cùng những nguyên-nhiên liệu tối cần thiết cho sự sống còn của nền kinh tế lệ thuộc nặng về vào xuất khẩu hiện nay của TQ. Xây dựng các căn cứ hải quân lớn tại Hải Nam và dọc theo tuyến tiếp vận chính kéo dài từ eo biển Đài Loan xuống vùng biển Nam Hải, phía nam Trung Hoa, qua eo biển Malacca , Singapore, vào Ấn Độ Dương và vùng biển Ả Rập ( Hải Nam, Hoàng Sa, vùng biển Đông; Kyaukpyu, Burma; Hambantota, Sri Lanca; và Gwadar, Pakistan, vùng Ấn Độ Dương).

Việc tăng cường số lượng tàu ngầm và những khu trục hạm trang bị những vũ khí tối tân (kể cả phi đạn nguyên tử tầm xa), có thể tấn công hủy diệt các hàng không mẫu hạm đang di chuyển, với căn cứ đặt tại đảo Hải Nam nói lên quyết tâm của TQ trong nổ lực khống chế vùng biển phía nam Trung Hoa, nơi có những nguồn dầu khí khổng lồ đang còn trong vòng tranh chấp với các nước láng giềng Đông Nam Á; đồng thời theo dõi mọi hoạt động của các chiến hạm thuộc lượng đặc nhiệm của Hạm Đội 7 Hoa Kỳ tại vùng biển Đông Hải- Thái Bình Dương, cũng như ngăn chặn mọi sự tiếp ứng, can thiệp của hải quân Hoa Kỳ trong trường hợp chiến tranh bùng nổ với đảo quốc Đài Loan. Lực lượng hải quân Trung Quốc mới gần đây đã bắt đầu được tổ chức và trang bị cho những hoạt động can thiệp quân sự trên biển xa trong nỗ lực mở rộng vùng ảnh hưởng của Trung Hoa trên thế giới bằng sự hiện diện của những lực lượng hải quân có khả năng hoạt động ngoài vùng biển sâu xa căn cứ. Song song với việc hiện đại hóa và nâng cao hiệu năng tác chiến của các lực lượng hải-lục-không quân lên tầm vóc quốc tế, TQ còn phát triển, xây dựng khả năng chiến tranh tin học có thể xâm nhập và vô hiệu hóa những mạng lưới thông tin liên lạc huyết mạch của Ngũ Giác Đài và các cơ quan trọng yếu của chính phủ Hoa Kỳ. Năm 2007, Trung Quốc đã chứng tỏ cho thế giới nhất là Hoa Kỳ thấy rõ khả năng chiến tranh không gian của mình qua việc bắn hạ một vệ tinh khí tượng của chính TQ, một khả năng gây lo ngại cho giới thẩm quyền quân sự Hoa Kỳ vì kỹ thuật chiến tranh hiện đại của Hoa Kỳ hiện nay lệ thuộc hoàn toàn vào mạng lưới vệ tinh thông tin liên lạc ngoài không gian.

Chiến lược bành trướng ảnh hưởng của TQ đi song đôi với việc làm suy yếu ảnh hưởng của các đối thủ trong khu vực cũng như của Hoa kỳ tại vùng châu Á-Thái Bình Dương. Về phía đông bắc, TQ xử dụng Bắc Hàn với tham vọng sở hữu vũ khí nguyên tử, như một áp lực để kềm chế Nhật Bản và Nam Triều Tiên, hai đồng minh khu vực quan trọng của Hoa Kỳ tại vùng Đông Bắc Á. Sự hà hơi tiếp sức của TQ cho Bình Nhưỡng cũng không ngoài mục đích tiếp tục duy trì áp lực không để cho Nam Hàn, nhất là Nhật Bản và Hoa Kỳ, được rảnh tay phát triển và duy trì vùng ảnh hưởng nhằm bao vây TQ tại khu vực chiến lược trọng yếu nầy.

Về phía nam, TQ liên minh với Pakistan qua việc viện trợ quân sự, cung cấp kỹ thuật chế tạo hỏa tiển và vũ khí nguyên tử cho nước nầy trong nỗ lực kềm chế Ấn Độ, đối thủ chiến lược nặng ký trong khu vực, với tiềm năng kinh tế và nhân lực khả dĩ có thể cạnh tranh và đối đầu được với TQ tại khu vực Á châu. Việc duy trì, không giải quyết tình trạng tranh chấp tại vùng biên giới Ấn-Trung, cũng như mở rộng vùng ảnh hưởng qua khu vực Ấn Độ Dương qua việc xây dựng những căn cứ hải quân tại các nước trong khu vực, nói lên quyết tâm của Trung Hoa trong việc kềm chế sự bành trướng ảnh hưởng của Ấn Độ tại khu vực Nam Á nói riêng và châu Á-Thái Bình Dương nói chung.

Trong nỗ lực ngăn chặn sự bành trướng của Hoa Kỳ tại khu vực Trung Á giàu những nguồn tài nguyên dầu khí, TQ đã liên minh với Nga, và các nước trong vùng, với mục tiêu ngăn chặn sự tiếp cận của Hoa Kỳ vào khu vực tài nguyên phong phú nầy. Viêc thành lập liên minh Thượng-Hải (The Shanghai Cooperation Organization) năm 2001 gồm các nước TQ, Nga, Kazakhstan, Kyrgyzstan,Tajikistan và Uzbekistan cũng không ngoài mục tiêu chiến lược đó.

Với một trữ lượng ngoại tệ khổng lồ trong tay, Trung Quốc đã lợi dụng tình trạng suy thoái chung hiên nay của thế giới, liên tiếp ký các hợp đồng béo bở, thu mua các nguồn nguyên-nhiên liệu tối cần thiết cho nền kinh tế đang phát triển của TQ với giá thật hời tại các nước châu Phi, Trung Á, Úc châu và ngay tại Nam Mỹ, vùng sân nhà của Hoa Kỳ. Các hợp đồng với tổng trị giá lên đến hàng trăm tỷ đô la với Venezuela, Brazil, Úc, Nigeria, Iran, các nước vùng Trung Á, và mới đây với Nga, cho thấy tầm vóc ảnh hưởng của Trung Quốc đã vượt khỏi phạm vi khu vực và lan rộng ra khắp những vùng có giá trị về kinh tế chiến lược trên toàn thế giới! Việc đề xướng thay thế đồng đô la bằng một hệ thống tiền tệ quốc tế mới để làm ngân tệ dự trữ cho quỹ tiến tệ quốc tế IMF mới đây của giới chức thẩm quyền TQ đã lộ rõ ý đồ của Trung Hoa trong việc loại bỏ dần tầm ảnh hưởng và sự chi phối của Hoa Kỳ lên các tổ chức tài chánh thế giới quan trọng. Đó là điều mà các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ và phương Tây chăc chắn đã nhìn ra thật rõ!!

Trong bối cảnh suy tàn của con đại bàng Hoa Kỳ do những lỗi lầm chiến lược trong chính sách kinh-tế và chính-trị đối-ngoại, con rồng đỏ Trung Hoa chỉ trong vòng ba thập niên ngắn ngủi, đã vươn lên chiếm lĩnh vị thế của một siêu cường về kinh tế. Ngày đăng quang của Trung Quốc chắc chắn sẽ không còn bao xa, nếu đúng theo dự kiến của các chuyên gia về kinh tế tài chánh thuộc World Bank: Năm 2025, Trung Quốc với tổng sản lượng quốc gia (GDP) vào khoãng 25,000 tỷ đô la, sẽ vượt qua Hoa Kỳ để trở thành siêu cường số một về kinh tế trên toàn thế giới. Một Trung Hoa ổn định và thịnh vượng có thể sẽ chỉ là một tin không vui cho cộng đồng thế giới (?!); nhưng ngược lại, một Trung Quốc suy thoái và sụp đổ thành từng mảng do thất bại về kinh tế và khuynh hướng phân ly theo lằn ranh sắc tộc, chắc chắn sẽ là một cơn mộng dữ cho toàn thể nhân loại, vì Trung Hoa không những là một cường quốc về kinh tế, mà còn là một cường quốc về quân sự, với một kho vũ khí hạt-nhân đủ sức làm sạt một góc địa cầu!!

Bang Pham
California-Tháng Mười Năm Hai Ngàn Lẻ Chín

 

 


Email : ctctkhoa4@yahoo.com