Khi Thái Bình Dương dậy sóng.

Bằng Phạm

 

Những cuộc tập trận liên tiếp của các đại cường Mỹ-Nga-Hoa nhằm phô diễn sức mạnh quân sự của mình trong thời gian vừa qua đã làm cuồng cuộng sóng nước Thái Bình Dương!

Mở đầu cho cuộc thị uy sức mạnh nầy là cuộc diễn tập của một phân đội đặc nhiệm gồm 10 chiến hạm trong đó có hai tiềm thủy đỉnh tấn công nhanh loại Kilo tối tân, tám khu trục hạm và hộ tống hạm có trang bị hỏa tiển do vô tuyến điều khiển thuôc Hạm Đội Đông Hải của Trung Quốc tại vùng biển Đông Hải-Thái Bình Dương ( East China Sea), đã vượt qua eo biển Miyako giữa Okinawa và Miyakojima, một đảo nhỏ thuộc đặc khu hành chánh Okinawa, hải hành xuôi về hướng quần đảo chiến lược đang tranh chấp giữa hai nước, Okinotori (vùng cực nam Nhật Bản), nằm giữa Đài Loan và Guam (nơi có một tiền cứ quân sự lớn của Hoa Kỳ), hôm 10 tháng Tư vừa qua, để tiến hành những cuộc thực tập phòng chống tàu ngầm tại đây mà không hề thông báo trước cho Cục Phòng Vệ Nhật Bản!

Song song với cuộc tập trận tại vùng biển Nhật Bản, một lực lượng khác thuộc Hạm Đội Bắc Hải của Trung Hoa cũng đã được lịnh phối trí suốt ba tuần lể liền để diễn tập tại vùng biền Đông (Nam Hải) mà trọng điểm là tại vùng quần đảo Trường Sa của Việt Nam và khu vực gần eo biển chiến lược Malacca; với những cuộc thực tập phối hợp tác chiến với lực lượng không quân thuộc các căn cứ trên bộ, bao gồm việc tiếp tế nhiên liệu trên không và diễn tập oanh kích mục tiêu.

Ngày 24 tháng Sáu vừa qua, Băc Kinh lại cho tiến hành một cuôc tập trận bắn đạn thật khá qui mô tại vùng biển Hoàng Hải, khu vực “ao nhà” (?) của Trung Hoa, nhằm đáp trả một cuộc tập trận lớn của Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên dự trù diễn ra tại đây để cảnh cáo Bắc Hàn sau vụ chiến hạm Cheonan của Nam Hàn bị một tàu ngầm Bắc Hàn đánh chìm hôm tháng Ba gây thiệt mạng cho 46 thủy thủ đoàn trên tàu!

Và ngày 27 tháng Bảy, năm 2010, Trung Quốc lại cho tiến hành một cuộc diễn tâp bắn đạn thật với qui mô lớn nhất từ trước đến nay, tại vùng biển Nam Hải (biển Đông) với sự tham dự của các chiến hạm, tiềm thủy đỉnh và phi cơ chiến đấu thuộc Hạm Đội Nam Hải của Trung Hoa. Đích thân tướng Trần Bỉnh Đức, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Giải phóng Trung Hoa, và tướng Ngô Sinh Lợi, tư lệnh Hải Quân TQ đã giám sát cuộc tập trận này mà theo Tân Hoa Xã, thì đây là một cuộc tập trận nhằm theo dõi chặt chẽ tình hình biển Đông và chuẩn bị sẵn sàng cho những cuộc xung đột vũ trang có thể xảy ra.

Sự lộ liễu trong ý đồ bành trướng của Bắc Kinh trong thời gian gần đây đã gây nhiều quan ngại cho cộng đồng thế giới nhất là các nước thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Thái độ ngày càng hung hãn và khẳng quyết của Trung Hoa về vấn đề chủ quyền gần như trên toàn bộ biển Đông đã tạo nên một sự căng thẳng rất đáng ngại trong khu vực! Những tuyên bố mới đây nhất của giới chức thẩm quyền TQ coi biển Đông là một trong những quyền lợi quốc gia thiết yếu và bất khả tranh tụng (indisputable national core interests) của Trung Quốc (như Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương) đã tạo nên một làn sóng phản ứng mạnh mẽ tại Diễn Đàn An Ninh Khu Vực Đông-Nam-Á (ARF) mở rộng được tổ chức tại Hà Nội hôm 23 tháng Bảy. Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đã lên tiếng lặp lại rõ ràng quan điểm của Hoa Kỳ đối với vần đề biển Đông, “Hoa Kỳ cũng như tất cả quốc gia khác, đều có lợi ích quốc gia, trong vấn đề tự do lưu thông hàng hải, sự đi lại công khai không bị ngăn trở trên những tuyến đường biển dành chung cho mọi quốc gia, tại khu vực Á châu. Những vấn đề tranh chấp lãnh thổ của các quốc gia trong khu vực cần phải được giải quyết trên căn bản thương lượng ngoại giao, không nên đe dọa, áp chế, hay dùng đến vũ lực!” Mười hai trên tổng số 27 quốc gia tham dự hội nghị, trong đó có Việt Nam, đã chính thức lên tiếng kêu gọi đa phương hóa vấn đề tranh chấp tại biển Đông, một điểm mấu chốt mà phía Trung Quốc luôn luôn bác bỏ, viện cớ chỉ nên giải quyết những mâu thuẫn về chủ quyền lãnh thổ dựa trên căn bản song phương, giữa Trung Quốc và từng quốc gia tranh chấp, để nghiêng hẳn cán cân quyền lợi về phía người Trung Hoa!

Lợi dụng tình trạng suy yếu của siêu cường Hoa Kỳ sau cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chánh toàn cầu, Trung Quốc đã từng bước mở rộng vùng ảnh hưởng của mình tại khu vực chiến lược châu Á-Thái Bình Dương. Sự phát triền và hiện đại hóa nhanh chóng của hải quân Trung Hoa đã tạo cơ hội và phương tiện cho TQ thực hiện giấc mộng tiến ra biển sâu của mình. Chiến lược phòng thủ từ biển xa của TQ (Offshore Defense) là một bước ngoặc mới trong tiến trình thực hiện tham vọng khống chế những khu vực có giá trị về kinh tế lẫn quân sự chiến lược tại vùng tây bộ Thái Bình Dương. Tham vọng lớn của Trung Quốc là xây dựng một lực lượng hải quân biển sâu có đủ khả năng hoạt động ngoài vành đai hải đảo phòng thủ tuyến hai (the second island chain--bao gồm quần đảo Kuriles, Nhật Bản, quần đảo Bonins, xuôi về phía nam qua các quần đảo Marianas, Caroline, Indonesia, Úc và đảo Guam của Hoa Kỳ), mở sâu về phía đông bộ Thái Bình Dương tới tận Hawaii, luôn cả Ấn Độ Dương cùng vùng biển Ả Rập, bao gồm hầu hết những thủy lộ huyết mạch vận chuyển hàng hóa, và nguyên-nhiên liệu nối liền châu Á-Thái Bình Dương với Trung Đông, Phi Châu và phần còn lại của thế giới.

Với vành đai hải đảo tuyến một ( the first island chain) bao gồm các quần đảo Aleutians, Kuriles, Ryukyus của Nhật Bản , Đài Loan, Phi Luật Tân, và đảo Borneo, mục tiêu mà Trung Quốc đề ra là phải khống chế những khu vực chiến lược quan trọng gồm biển Hoàng Hải (Yellow Sea) giữa TQ và Triều Tiên; Đông Hải (East China Sea) giữa TQ, Triều Tiên, Nhật Bản; Nam Hải hay biển Đông (South China Sea) giữa TQ, VN và các nước Đông Nam Á còn lại, bao gồm luôn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Viêt Nam, mà theo ước tính của các chuyên gia về dầu khí của TQ thì tại khu vực này có một trữ lượng dầu hỏa lớn hơn của Iran, và một lượng khí đốt thiên nhiên nhiều hơn của Arab Saudia. Các tuyến hàng hải huyết mạch nối liền miền Đông Bắc Á, Đông Nam Á với Trung Đông và Phi Châu, Úc Châu…đều nằm trong khu vực chuỗi hải đảo quan trọng này.

Với môt sức mạnh về kinh tế tiềm tàng, với quyết tâm hiện đại hóa quân đội nhất là về hải quân, qua việc tăng cường số lượng các chiến hạm và tiềm thủy đỉnh trang bị những vũ khí tối tân, phát triển các loại hỏa tiển địa-địa và địa-hải tầm trung (DF21D) với tầm hoạt động trên 1500 km, có khả năng tiêu diệt các chiến hạm và hàng không mẫu hạm đang di chuyển trên biển của hải quân Mỹ, bắn phá các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ tại Nhật Bản, Nam Hàn và ngay cả tại đảo Guam; Trung Quốc chỉ trong vòng thập niên tới, sẽ có đủ khả năng ngăn chận mọi sự tiếp cận của lực lượng không quân và hải quân của Hoa Kỳ nhằm can thiệp vào những cuộc xung đột vũ trang bùng phát tại khu vưc châu Á-Thái Bình Dương, cũng như đặt Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Úc, Tân Tây Lan, và các nước Đông Nam Á hoàn toàn trong tầm kiềm tỏa của Trung Hoa!

Tham vọng về lãnh thổ và cơn đói khát nguyên-nhiên liệu không hề thỏa mãn của Trung Hoa đã làm lo ngại ngay cả những cường quốc lớn như Nga và Ấn Độ. Nước Nga với hàng triệu cây số vuông đất đai mà Nga Hoàng và Liên Bang Sô Viết đã chiếm được của Trung Hoa tại vùng biên giới giữa hai nước vào cuối thế kỷ mười chín và ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng, đã là nguyên nhân chính gây mâu thuẫn và căng thẳng cho hai quốc gia CS lớn này trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh vừa qua. Vùng Viễn Đông giáp giới Trung Hoa của Cộng Hòa Nga là một vùng rộng lớn, dân cư thưa thớt, nhưng lại tiềm tàng những nguồn dầu hỏa, khí đốt, quặng mỏ quí hiếm, cùng nguồn nông-lâm-ngư sản phong phú chưa được khai thác đúng mức. Sự phát triển về kinh tế và quân sự của Trung Hoa đã làm người Nga lo sợ; nhất là vùng Viễn Đông nước Nga lại là vùng đất cũ chiếm đoạt từ tay người Trung Hoa. Cuộc chiến biên giới đẫm máu năm 1969 giữa hai nước Trung-Sô, mà cao điểm là việc phát thảo kế hoạch tấn công toàn lực bằng vũ khí hạt nhân và bộ binh của Liên Sô nhắm vào Trung Hoa đã làm đảo lộn cục diện thế giới, với cán cân quyền lực nghiêng hẳn vế phía Hoa Kỳ sau khi Trung Quốc tách rời quỹ đạo của người Nga để ngã hẳn về phía người Mỹ! Món nợ về lãnh thổ biên giới Trung-Sô vẫn là một vấn đề không thế quên lãng trong tâm trí của các nhà lãnh đạo của cả hai bên!

Cuộc tập trận với qui mô chiến lược lớn, Vostok 2010, diễn ra hôm cuối tháng Sáu, 2010 tại vùng Siberia và vùng Viễn Đông nước Nga, giáp biên giới phía bắc của TQ, với sự tham dự của một lực lượng lớn bao gồm 40 chiến hạm của các hạm đội Bắc Hải, Hắc Hải và Thái Bình Dương, 75 máy bay chiến đấu, cùng 20,000 binh sĩ và quân nhảy dù Nga. Đích thân TT Nga Dmitry Medvedev đã theo dõi cuộc tập trận này trên chiếc tuần dương hạm trang bi các hỏa tiển tấn công tối tân nhất của Hải quân Nga, Peter-The-Great, với hệ thống phòng thủ chống phi đạn tương tự như hệ thống Aegis của Hải Quân Hoa Kỳ.

Cuộc diễn tập bao gồm việc điều động từ xa lần đầu tiên các máy bay chiến đấu tối tân Sukhoi Su 24 & 34 từ vùng Trung Nga tại Âu châu, được tiếp tế nhiên liệu trên không để bay thẳng tới các phi trường quân sự tại vùng Viễn Đông Nga, trong tầm xa khoảng 8000 km. Cùng lúc đó một trung đoàn bộ binh không kỵ trang bị nhẹ được không vận từ Ural tới khu vực chiến trường sát biên giới Trung Quốc, cách đó vài ngàn cây số chỉ trong vòng sáu tiếng đồng hồ. Việc thực thập điều động nhanh các lực lượng không quân và bộ binh cơ giới từ xa để tăng viện cho các lực lượng quân sự tại Siberia và Viễn Đông Nga, nhằm trắc nghiệm khả năng phối trí nhanh các lực lượng tiếp ứng từ vùng lãnh thổ phía Âu châu của Cộng Hòa Nga cho khu vực Viễn Đông Á Châu trong tình huống bị tấn công bởi một lực lượng chính qui lớn trang bị tối tân của nước ngoài. Cuộc diễn tập của các đơn vị hải quân phối hợp tác chiến với các chiến đấu cơ của không quân, nhằm đẩy lui những cuộc không tập của đối phương; thực tập kỹ thuật tác chiến trên mặt biển và phòng chống tàu ngầm địch, cùng hành quân đổ bộ và chống đổ bộ. Các hỏa tiển địa không tối tân S-300 cũng được triển khai trong dịp này. Theo nhận xét của các chuyên gia quân sự nước ngoài thì cuộc tập trận này nhằm chứng tỏ khả năng của quân lực Nga trong việc phối hợp tác chiến giữa các quân binh chủng Hải-Lục-Không Quân; điều phối nhanh từ xa các đơn vị tiếp ứng cho chiến trường Viễn Đông trong những tình huống khẩn trương, mà đối phương có lẽ là không ai khác ngoài người láng giềng khổng lồ hung mạnh phương nam, Trung Hoa!

Sự bành trướng về hướng Ấn Độ Dương theo chiến lược “Xâu chuỗi ngọc” (The ‘string of pearls’ strategy) đã làm lo ngại Ấn Độ, môt cường quốc khác trong khu vực. Chính sách ngoại giao ‘nhu lực và đi đêm’ đã giúp TQ nắm được một số quốc gia nằm dọc theo tuyến vận tải hàng hải chiến lược nối liền châu Á-Thái Bình Dương với vùng dầu hỏa Trung Đông và vùng châu Phi phong phú tài nguyên thiên nhiên. Do sự phát triển nhanh chóng về kinh tế trong ba thập niên qua, TQ rất cần những nguồn nguyên-nhiên liệu tại những khu vực nầy. Việc phát triển hải quân của Trung Hoa nhằm hai mục tiêu gắn liền nhau. Bảo vệ tuyến vận chuyển huyết mạch trên biển cũng như bành trướng ảnh hưởng qua vùng Ấn Độ Dương, vùng sân nhà của Ần Độ, một đối thủ chiên lược truyền thống của Trung Hoa tại Á châu. Các căn cứ hải quân, các tiền đồn quan sát, và các cảng nước sâu tại Hải Nam, Hoàng Sa, Miến Điện, Sri Lanca, Bangladesh, Pakistan… đã như một chuỗi ngọc trai trải dài từ biển Đông (Nam Hải), qua eo biển Malacca, vào Ấn Độ Dương tới tận vùng biển Ả Rập, Trung Đông. Sự hiện diện của hải quân TQ cùng những căn cứ tiếp vận tại Ấn Độ Dương là một thách thức lớn, đe dọa sự độc bá của hải quân Ấn trong khu vực biển nhà của mình, cộng thêm vào đó là sự tranh chấp âm ỉ triền miên về lãnh thổ tại vùng biên giới chung giữa hai nước đã gây quan ngại không nhỏ cho giới lãnh đạo Ấn Độ trước gọng kiềm vây hãm khép kín của người Trung Hoa!

Phản ứng trước những hành vi khiêu khích quân sự của Bắc Hàn trong vụ đánh đắm chiến hạm Cheonan của Nam Triêu Tiên, cũng như để gởi một thông điệp gián tiếp cảnh cáo thái độ hành xử hung hăng, bá quyền trong cung cách giải quyết xung đột về chủ quyền lãnh thổ với các nước láng giềng của Trung Hoa, hải quân Hoa Kỳ và các nước đồng minh đã tiến hành những cuộc thao dượt qui mô tại vùng biển Nhật Bản, Hoàng Hải và vùng biển quanh quần đảo Hawaii, Hoa Kỳ, cũng như tại vùng biển Đông hay Nam Hải.

Ngày 26 tháng Bày, 2010, hải quân Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên đã tiến hành một cuộc thao diễn hỗn hợp qui mô mệnh danh ‘Tinh Thần Bất Khả Chiến Bại’ (Invincible Spirit) kéo dài suốt 4 ngày, tại ngoài khơi vùng biển phía đông Triều Tiên cách đường biên giới phân chia vùng biển giữa Nam-Bắc Triều Tiên không đầy 200 km ; với sự tham dự của 8,000 binh sĩ, 200 máy bay (trong đó có các chiến đấu cơ tối tân F 18F Super Hornet, F 15E Eagle, và đặc biệt là loại Raptor tiêm kích tàng hình F22A lần đầu tiên xuất hiện trên vòm trời bán đảo Triều Tiên). Hai mươi chiến hạm thuộc Lực Lượng Xung Kích Đặc Nhiệm 73 dẫn đầu bởi hàng không mẫu hạm chạy bằng năng lượng hạt nhân khổng lồ, USS George Washington (trọng tải 100,000 tấn), các tiềm thủy đỉnh nguyên tử loại tấn công, cùng các khu trục hạm của Mỹ và Nam Triều Tiên đã di chuyển theo đội hình tác chiến triển khai trên mặt biển. Cuộc thực tập này nhằm phối hợp các kỹ thuật tác chiến trên biển giữa hải quân hai nước; nhất là kỹ thuật chống tàu ngầm địch, với một tiềm thủy đỉnh đã hư hại được dùng làm mục tiêu thí nghiệm cho cuộc diễn tập bắn đạn thật nầy. Trước đó, ba tiềm thủy đỉnh nguyên tử tấn công loại Ohio tối tân nhất của Hoa Kỳ, trang bị gần 500 phi đạn Tomahawk cũng đã được phối trí tại vùng biển Phi Luật Tân, Nam Hàn và cứ điểm quân sự chiến lược tại đảo Diego Garcia (vùng Ấn Độ Dương), như một thông điệp của sức mạnh nhằm vào Trung Hoa và Bắc Triều Tiên.

Một cuộc tập trận qui mô khác kéo dài suốt tháng Bảy, 2010, Rim of the Pacific Exercise (RIMPAC-Vành Đai Thái Bình Dương) được tổ chức tại Hawaii, với 36 chiến hạm, 5 tiềm thủy đỉnh, 170 chiến đấu cơ và 20,000 binh sĩ thuộc 14 quốc gia gồm Úc, Canada, Chile, Colombia, Pháp, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, Hòa Lan, Peru, Nam Hàn, Singapore, Thái Lan, và Hoa Kỳ (Ấn Độ, Tân Tây Lan tham dự với tư cách quan sát viên). Cuộc diễn tập bao gồm thực tập kỹ thuật tác chiến trên mặt biển, kỹ thuật phòng chống tàu ngầm địch, bắn đạn pháo, và phi đạn đối hải, đối không, cứu hộ, ngăn chặn tàu địch và hành quân đổ bộ. Mục tiêu của cuộc tập trận với tầm vóc lớn này là nhằm tăng cường an ninh phòng thủ, chống lại sư đe dọa của các “cường quốc đang lên” (rising powers)!

Ngày 5 tháng Tám vừa qua, hải quân Nam Triều Tiên lại tiến hành một cuộc diễn tập qui mô lớn tiềm diệt tiềm thủy đỉnh tai vùng biển Hoàng Hải (Yellow Sea) kéo dài tới tận ngày 9 tháng Tám, ngay gần khu vực ‘nhạy cảm’, nơi chiến hạm Cheonan của Nam Hàn bị Bình Nhưỡng đánh chìm vào tháng Ba năm nay. Lưc lượng tham gia cuộc tập trận gồm 29 chiến hạm và tiềm thủy đỉnh, 50 máy bay chiến đấu siêu thanh cùng 4500 binh sĩ Nam Hàn. Mục đích của cuộc tập trận nầy là để chứng tỏ sức mạnh và quyết tâm của quân lực Nam Hàn sẵn sàng giáng trả mọi hành vi khiêu khích đến từ phía Bắc Hàn.

Trong một cử chỉ khác biểu lộ quyết tâm của Hoa Kỳ trong việc duy trì sự lưu thông hàng hải tự do trên vùng biển Đông mà TQ tự nhận là ao nhà của mình (qua những đòi hỏi quá ngang ngược về chủ quyền lãnh thổ trong khu vực); siêu mẫu hạm USS George Washington cùng đoàn khu trục hạm hộ tống đã hải hành xuôi về phía nam, thả neo ngoài khơi cảng Đà Nẳng, trong chuyến viếng thăm đầy ý nghĩa để kỷ niệm 15 năm tái lập bang giao giữa hai quốc gia. Trong bối cảnh của những căng thẳng đang dâng cao trong khu vực Hoàng-Trường Sa của Việt Nam, sự hiện diện của siêu hạm USS George Washington (một biểu tượng cho quyền uy và sức mạnh của siêu cường Hoa Kỳ tại vùng châu Á-Thái Bình Dương) tại vùng biển Đà Nẳng, một cứ điểm quân sự chiến lược lớn của quân lực Mỹ trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam ( mà cách đó không xa là quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã bị người Trung Hoa chiếm đóng năm 1974), như một lời cảnh cáo gián tiếp cho thái độ hung hăng, hiếu chiến của Trung Hoa qua mưu đồ độc chiếm toàn bộ vùng biển Đông, một thủy lộ giao thông huyết mạch của các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương. Cuộc diễn tập hổn hợp tuy nhỏ nhưng mang nhiều hàm ý tiếp theo đó của hải quân Mỹ-Việt, nhất là những lời tuyên bố mới đây của bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về vấn đề sản xuất năng lượng nguyên tử tại Việt Nam, mà không hạn chế việc làm giàu chất uranium ( có thể xử dụng trong việc sản xuất vũ khí hạt nhân!!) đã như một mũi gai nhọn trong tai mắt giới lãnh đạo đương quyền tại Bắc Kinh!

Cuộc diễn tập hổn hợp, đại qui mô mới nhất mang tên “ Ulchi Freedom Guardian”, diễn ra ngày 16 tháng Tám, 2010 tại vùng bán đảo Triều Tiên , với 30,000 quân nhân Mỹ và 56,000 binh sĩ Nam Hàn tham dự, dự trù kéo dài trong 11 ngày. Đây là cuộc diễn tập phối hợp hành quân tác chiến (phần lớn trên computer), và rèn luyện khả năng quyết định trong những tình huống đòi hỏi của chiến trường cho các sĩ quan và binh sĩ của hai quốc gia Hàn-Mỹ, nhằm bảo vệ dân chúng miền Nam chống lại những hành vi gây hấn, khủng bố, hay xâm lăng từ phía Bắc. Trước tình hình bất ổn về chính trị và suy kiệt về kinh tế tại Bắc Hàn hiện nay, Nam Hàn và Hoa Kỳ cần chuẩn bị sẵn sàng các phương án đối phó, mà phương án ứng phó khẩn cấp trong trường hợp bị Bình Nhưỡng tấn công bất ngờ do bế tắc chính trị nội bộ, hay sự sụp đổ bất ngờ từ bên trong của Bắc Hàn do nền kinh tế suy sụp, mà lực lượng quân sự đồng minh cần phải nhanh chóng tiến ra phía bắc để tiếp thu và bảo vệ dân chúng tại đây.

Do những sai lầm trong chính sách kinh tế và chính trị đối ngoại của giới lãnh đạo Hoa Kỳ thuộc lưỡng đảng, nhất là dưới thời TT George W. Bush, Hoa Kỳ đã tạo cơ hội ngàn năm cho con rồng đỏ Trung Hoa bừng dậy và vươn lên.

Sự thả lỏng không điều-phối (deregulation), để thị trường tự điều chỉnh tự nhiên trong mọi tình huống (laissez-faire), khởi nguồn từ thời TT Reagan trong đầu thập niên 1980s, mà đỉnh cao là việc ký ban hành đạo luật Gramm-Leach-Bliley Act 1999, vào cuối thời TT Clinton, hủy bỏ một phần đao luật Glass-Steagall Act 1933 [nghiêm cấm mọi sự kết hợp giữa các ngân hàng đầu tư ( investment banks) và ngân hàng thương mãi (commercial banks),sau sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ trong thời kỳ Đại Khủng Hoảng, Great Depression năm 1929, kéo dài suốt thập niên 1930s]. Cộng thêm vào đó là khuynh hướng ‘thân tài-phiệt’ (corporatism) trong suốt 8 năm cầm quyền của TT George W. Bush đã đẩy kinh tế Hoa Kỳ, và cả thế giới (với cuộc khủng hoảng tài chánh tín dụng toàn cầu năm 2008) vào tình trang suy thoái nghiêm trọng! Việc chuyển đổi từ hệ thống kinh tế đặt nền tảng trên sản xuất sản phẩm công-nghệ và tiêu dùng (đã đưa nước Mỹ lên hàng cường quốc thế giới, giúp phe đồng minh chiến thắng cuộc Đại Chiến Thế Giới lần thứ Hai, và vực dậy một châu Âu suy kiệt sau chiến tranh) sang hệ thống kinh tế đặt căn bản trên tiêu-thụ, sản xuất dich vụ và kỹ thuật tin học cao đã tạo nên sự mất cân đối nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc gia Hoa Kỳ.

Trong thập niên 80s, khi người Trung Hoa mở rộng cửa thị trường khổng lồ của mình, giới tài phiệt Mỹ và các nước tư bản Âu châu đã như tìm thấy một chân trời rộng mở tại đây. Với một thị trường nhân công nội địa rẻ mạt và một tiềm năng tiêu thụ hàng hóa gần như vô tận (?!), Trung Quốc đã trở thành một thiên đường khai thác cho giới đại tài phiệt của thế giới Tư Bản. Được sự trợ giúp của giới lãnh đạo Hoa Kỳ cũng như của khối Liên Hiệp châu Âu , trong nỗ lực nhằm khắc chế tình trạng lạm phát trầm kha đã hoành hành trong xã hội tư bản từ nhiều thập niên nay; các tập đoàn tài phiệt, nhất là các tập đoàn tài phiệt đa quốc gia Mỹ (Multinationals) đã ồ ạt đầu tư các máy móc, trang thiết bị sản xuất tối tân, xây dựng các cơ xưởng, cùng chuyển giao môt số những công nghệ sản xuất cao cấp cần yếu cho thị trường Trung Hoa.

Hàng hóa sản xuất với giá thành hạ giảm rất nhiều tại Trung Quốc được đem tiêu thụ ồ ạt tại thị trường phương Tây, nhất là thị trường Hoa Kỳ đã giúp giải quyết được vấn nạn lạm phát tại đây, nhưng đồng thời cũng nẩy sinh nhiều hiện tượng phức tạp. Với sự canh tranh tự nhiên trong môi trường kinh tế thị trường, thì giá thành và chất lượng sản phẩm là những yếu tố quyết định việc làm chủ thị trường. Các hàng hóa tiêu dùng được sản xuất tại Trung Quốc tuy phẩm chất có phần kém hơn hàng sản xuất tại nội địa Hoa Kỳ, nhưng giá cả lại rẻ hơn rất nhiều và rất thích hợp với túi tiền của người tiêu thụ địa phương. Hậu quả là hàng loạt những cơ xưởng sản xuất hàng hóa tại Hoa Kỳ phải đóng cửa ngưng sản xuất hoặc phải di chuyển qua TQ để sống còn trong tình trạng cạnh tranh ác liệt của nền kinh tế toàn cầu. Và những hậu quả phức tạp hơn cũng nẩy sinh từ đó. Tỷ lệ thất nghiệp trong nội địa nước Mỹ cũng tỷ lệ thuân theo số lượng công việc và các hãng xưởng được đưa ra nước ngoài! Đồng thời tình trạng thâm thủng mậu dich cũng gia tăng gây phương hại cho sự ổn định của nền kinh tế Hoa Kỳ do sự suy yếu của đồng đô la và sự sút giảm, mất khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế của nền công nghiệp chế tạo sản phẩm máy móc và hàng hóa tiêu dùng từng một thời là xương sống cho sự thịnh vượng, vững mạnh của quốc gia Hoa Kỳ!

Trừ khoảng thời gian vài năm dưới thời TT Clinton, nhờ sự phát triển của ngành công nghệ tin học cao cấp, và sự gia tăng mức thuế thu nhập đánh lên số 5% giới lợi tức cao trong nước Mỹ, cũng như sự giảm bớt những chi phí quân sự thời hậu chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ đã đạt được mức thặng dư ngân sách lần đầu tiên sau nhiều năm dài thâm thủng.

Nhưng khoảng thời ngắn ngủi đó đã qua nhanh! Biến cố 9/11 như một cơn sốc làm choáng váng nước Mỹ. Sự thiệt hại về nhân mạng và tài chánh bước đầu đã làm khựng lại nền kinh tế đang trên đà hồi phục với nhiều hứa hẹn sẽ có thêm nhiều thăng dư cho ngân sách quốc gia. Cuộc chiến chống khủng bố được mở ra ngay sau đó tại chiến trường Afghanistan, với sự tan rã nhanh chóng của tổ chức khủng bố Hồi Giáo cực đoan al Qaeda và sự giải thể của chính quyền Taliban bảo trợ cho tổ chức này tại đây. Nhưng thay vì tập trung mọi nỗ lực để giải quyết Bin Laden, diệt trừ tận gốc rễ phong trào al Qaeda và Taliban đang rệu rã sau cuộc tiến công của lực lượng Liên Minh Phương Bắc (North Alliance) của Afghanistan với sự yểm trợ của quân đội Hoa Kỳ, chính quyền Cộng Hòa của TT Bush đã chuyển hướng mục tiêu sang địa bàn Iraq, nơi mà giới tân-Bảo Thủ cáo buộc đã bảo trợ cho các tổ chức khủng bố quốc tế, cũng như sản xuất các loại vũ khí giết người hàng loạt WMDs, có thể gây nguy hại cho nền an ninh của quốc gia Hoa Kỳ và thế giới. Có lẽ quan điểm chiến lược của Kissinger về Trung Đông, cho Iraq là địa bàn trọng yếu cần phải chiếm giữ để khống chế toàn bộ khu vực này, đã ảnh hưởng đến quyết định tấn công Iraq của các nhà lãnh đạo tân-Bảo Thủ trong chính quyền của TT Bush ?!

Những hệ lụy do lỗi lầm chiến lược này đã làm quỵ ngã một siêu cường duy nhất còn lại trên thế giới. Sự sa lầy tại chiến trường Iraq đã kéo theo sự suy sụp của tình hình an ninh tại Afghanistan, vì thực tế Hoa Kỳ không thể nào có đủ năng lực để đương đầu cùng một lúc với hai cuộc chiến dai dẳng, tổn phí, và hủy hoại như vậy! Chưa kể đến việc đã giải thoát chế độ giáo quyền Islamic cực đoan tại Iran khỏi hai gọng kiềm, kềm kẹp từ hai phía: Sadam Hussein, Iraq và Taliban, Afghanistan! Một sai lầm đã phá vỡ thế cân bằng chiến lược mong manh cần thiết cho sự ổn định tại khu vực Trung Đông, khi Iraq bị người Mỹ loại khỏi vòng chiến, và Iran nghiễm nhiên phóng quyền lực tạo ảnh hưởng tại các quốc gia láng giềng trong vùng vịnh. Kế hoạch xây dựng các lò phản ứng nguyên tử, và phát triển vũ khí hạt nhân của quốc gia này (với sự yểm trợ ngầm của Trung Quốc và cả Công Hòa Nga!!) đã làm điên đầu Washington khi mọi phương tiện và chọn lựa nhằm đối phó với Iran đã gần như vuột khỏi tầm tay người Mỹ!

Với sự sa lầy của Hoa Kỳ tại Trung Đông và Afghanistan, cùng sự sao nhãng về vấn đề châu Á của chính quyền Mỹ, Trung Quốc đã được rảnh tay trong gần suốt mười năm trời để phát triển nền kinh tế-quốc phòng, cũng cố quyền lực và mở rộng vùng ảnh hưởng tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Với Bắc Hàn tại Đông Bắc Á, Pakistan tại Nam Á, và sự tranh chấp tại biển Đông (Nam Hải), Bắc Kinh đã có đầy đủ đối lực để kềm chân Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Ấn Độ, và các quốc gia thuộc khối ASEAN tại những khu vực chiến lược trọng yếu nầy !

Lợi dụng những lỗ hổng của nền kinh tế toàn cầu, đang còn cần sự cân đối, hoàn chỉnh cho phù hợp với tình hình thế giới, Trung Quốc trong ba thập niên qua đã áp dụng một chính sách kinh tế của thế kỷ 17, 18, ‘Mercantilist’: Chú trọng thuần vào vấn đề xuất khẩu để thâu tóm ngoại tệ mạnh. Tài trợ hàng xuất khẩu, kềm giá đồng nhân dân tệ, để tạo lợi thế về mậu dịch cho hàng hóa xuất khẩu của Trung Hoa. Thu gom các nguồn nguyên-nhiên liệu nhu yếu trên thế giới; kiểm soát mọi hoạt động thương mãi; thi hành những biện pháp bảo hộ mậu dịch để hạn chế hàng hóa nhập khẩu từ các nước phương Tây… Kết quả chỉ trong vòng 30 năm ngắn ngủi, Trung Quốc đã bước một bước đi dài ngàn dậm, qua mặt cả Nhật Bản, chiếm lĩnh vị trí siêu cường thứ hai trên thế giới về kinh tế. Trong khi Trung Quốc với trữ lượng ngoại tệ thăng dư trên hai ngàn tỷ đô la, thì Hoa Kỳ và thế giới phải trả một giá quá đắt qua việc gánh chịu mức thâm thủng mậu dịch với con số tương ứng đó! Chỉ riêng năm 2008, mức thâm thủng trong tương quan mậu dich giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đã lên tới con số kỷ lục, 268 tỷ đô la (US Census, Foreign Trade Statistics)! Một con số đã làm choáng ngợp các giới chức kinh tế-tài chánh có thẩm quyền!

Sự mất cân đối trong cán cân mậu dịch của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc, một phần do chính sách kinh tế tài chánh sai lầm, thiên về tiêu thụ và khuyến khích việc tiêu thụ vượt quá khả năng tài chính cá nhân cho phép (qua hình thức tín dụng dễ dãi với lãi suất rất thấp để kích thích thị trường tiêu thụ nội địa, với nguồn vốn từ Trung Quốc đổ ngược về thị trường Hoa Kỳ khi TQ xử dụng hàng trăm tỷ đô la do thặng dư mậu dịch với Hoa Kỳ để mua các trái phiếu của các công ty và của bộ Ngân Khố Mỹ). Sự thả nổi giá cả trên thị trường bất động sản, cùng những hình thức cho vay thế chấp và đầu tư chứng khoáng đầy rẫy rủi ro (subprime mortgages, adjustable rate mortgages, mortgage-backed securities, credit default swaps etc.). Chính sách thuế khóa bất hợp lý (dưới thời TT George W. Bush), giảm thuế lợi tức cho thành phần với lợi tức cao nhất (chiếm khoảng 5% trong xã hội Mỹ) trong khi ngân sách quốc gia vẫn phải tiếp tục đài thọ cho hai cuộc chiến tiêu hao, dai dẳng tại Iraq, Afghanistan và những chi phí an sinh xã hội tăng cao. Việc vận động hành lang (lobby) để ảnh hưởng đến các quyết định quan trọng của Quốc Hội và chính quyền Mỹ của các đoàn thể áp lực, và các nhóm quyền lợi (special interest groups) tại Wall Street, nhất là các tập đoàn tài phiệt đa quốc-gia đang hoạt động với nguồn lợi nhuận rất cao tại Trung Quốc, đã cản trở mọi nỗ lực cần thiết nhẳm điều chỉnh,cân đối chính sách kinh tế-tài chánh của chính phủ Hoa Kỳ. Tất cả những yếu tố đó đã góp phần đưa tới sự sụp đổ của thị trường tài chánh-tín dụng Hoa Kỳ ( khởi nguồn từ sự vỡ tung của quả bóng bất động sản tại nội địa Mỹ ), đẩy nước Mỹ và toàn bộ thế giới vào một cuộc đại suy-thoái nghiêm trọng, mà ngay cả Bernankee, chủ tịch Ngân Hàng Dự Trữ Trung Ương Hoa Kỳ, cũng phải thừa nhận, về kích thước và mức độ tác hại nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ không thua gì cuộc Đại Khủng Hoảng Kinh Tế ( Great Depression) năm 1929, cũng khởi nguồn ngay chính từ nước Mỹ nầy!

Với sự suy sụp của nền kinh tế quốc gia, mà mức thâm thủng ngân sách hiện nay đã lên đến hàng ngàn tỷ đô la, và mức nợ quốc gia kỷ lục gần 11,000 tỷ đô, nước Mỹ đang phải xét lại chính sách kinh tế và đối ngoại của mình. Ngay từ những ngày tháng đầu của nhiệm kỳ, TT Obama đã có những định hướng rõ rệt trong mối quan hệ với Trung Hoa. Chính sách G2 bao gồm hai cường quốc Mỹ-Hoa sẽ quyết định cho mọi vấn đề hệ trọng của thế giới trong tiền bán thế kỷ thứ 21 này, đã được chính quyền Obama đề xướng và cổ súy!

Ảnh hưởng bởi khuyến cáo của các nhà lãnh đạo thuộc khuynh hướng ‘Duy Thực’ (Realists) trong chính giới Hoa Kỳ như Kissinger, Zbigniew Bzezinski, etc., và nhất là của các kinh tế gia thuộc hệ phái ‘Phần Hành’ (Functionalists) chú trọng nhiều vào vấn đề lợi ích kinh tế thiết thực hơn là những khác biệt, bất đồng về chính kiến, hay cơ cấu chính trị (John Lee—Centre for Independent Studies--Sydney); ngay từ thời TT Carter, Reagan , và nhất là dưới thời Clinton và George W. Bush, các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ đã áp dụng chính sách vừa hợp tác về kinh tế với Trung Hoa để đôi bên cùng hưởng lợi, nhưng đồng thời cũng ‘uốn nắn’ (mold) Trung Hoa vào một khuôn khổ, trật tự thế giới đã có sẵn do Hoa Kỳ lãnh đạo ( Congagement=containment+engagement). Nói một cách khác, Hoa Kỳ sẽ tạo mọi điều kiện thuận tiện cho Trung Quốc phát triển, cùng hưởng mọi lợi ích do sự hợp tác này đem lại; nhưng Trung Quốc phải có trách nhiệm tôn trọng, tuân thủ, và duy trì tất cả những luật lệ cũng như lề thói quốc tế hiện hành (current international laws and norms). Điều này có nghĩa TQ phải là một người hợp-tác (partner) hay ‘cổ-đông-có-trách-nhiệm’ (mutual responsible stakeholder) trong cuộc chơi kinh tế-chính trị toàn cầu cùng với Hoa Kỳ và cộng đồng thế giới!

Đó là lý do mà ngay từ 1980, các chính quyền Mỹ đều cố gắng vận động cho TQ được hưởng qui chế tối-huệ-quốc (Most Favored Nations-MFN, or Permanent Normal Trade Relations-PNTR), để được mọi ưu đãi trong việc giao thương buôn bán với Hoa Kỳ (như thuế nhập khẩu rất nhẹ…), dù phải gia hạn hàng năm, do bị Quốc Hội Mỹ quyết liệt chống đối không chịu cấp qui chế thường trực, vì Trung Hoa vẫn còn là một quốc gia CS độc tài và vi phạm nhân quyền trầm trọng! Chính nhờ những nỗ lực đó, cuối cùng TQ cũng đã được Quốc Hội Hoa Kỳ chấp thuận cho hưởng qui chế Tối Huệ Quốc thường trực (PNTR) vào cuối năm 1999, và gia nhập tổ chức Mậu Dịch Quốc Tế, WTO, năm 2000.

Trong suốt ba thập niên, với việc bật đèn xanh của chính phủ Hoa Kỳ, các tập đoàn tư bản Mỹ đã ào ạt đổ vốn liếng, kỹ thuật, cùng xây dựng những phương tiện sản xuất tại thị trường TQ, tận dụng nguồn lao động rẻ và dư thừa tại đây để sản xuất những mặt hàng tiêu thụ cung cấp cho thị trường nội địa Hoa Kỳ và các nước phương Tây. Việc đổ những nguồn vốn khổng lồ để giúp Trung Quốc xây dựng nến công nghiệp sản xuất hàng hóa, cũng như chấp nhận việc tiêu thụ hầu hết những sản phẩm do TQ làm ra tại thị trường nội địa Hoa Kỳ với mức thuế nhập khẩu rất nhẹ, đã giúp vực dậy một nước Trung Hoa đang gặp rất nhiều khó khăn khủng hoảng sau hơn 30 năm thực thi đường lối kinh tế xã-hội chủ-nghĩa của Mao Trạch Đông! Sự thành công kỳ diệu của nền kinh tế Trung Quốc trong ba thập niên vừa qua chính là nhờ ở sự sắp xếp đó!

Theo cách tính toán của giới lãnh đạo Hoa Kỳ, thì mô hình phát triển của các nước châu Âu sau Thế Chiến thứ Hai, nhất là mô hình phát triển của Đức và Nhật Bản là mô hình mà Washington muốn áp dụng để giúp phát triển đất nước Trung Hoa. Theo đó nước Mỹ chấp nhận mọi thiệt thòi trong giao thương kinh tế; chấp nhận việc tiêu thụ hàng hóa bất kể số lượng của các nước đươc hưởng qui chế Tối Huệ Quốc của Hoa Kỳ, kể cả việc thâm thũng do quan hệ mậu dich bất lợi đó gây ra ( gần như miễn thuế đánh lên các loại hàng hóa nhập vào thị trường Mỹ ), với một số điều kiện nào đó được ‘hiểu ngầm’: Nhường quyền quyết định về đường lối đối ngoại và một số những quyết định cần thiết khác cho Hoa Kỳ (như trong chiến lược đối phó với Liên Sô trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh vừa qua). Riêng trường hợp Trung Quốc, thì đất nước nầy sẽ phát triển trong khuôn khổ của một ‘Stakeholder’, có quyền lợi và đồng thời cũng phải có nghĩa vụ, trách nhiệm, tôn trọng, tuân thủ những lề luật và trật tự thế giới đã có sẵn ! (Peter Zeihan –Stratfor Global Intelligence).

Tuy nhiên trên thực tế, vấn đề không phải đơn giản như sự giả định của người Mỹ, vì họ đã bỏ sót một điều rất quan trọng: Về phương diện lịch sử và địa-dư chính-trị (geopolitics) thì Trung Hoa là một nước lớn với dân số hơn 1 tỷ 3 người; đã từng là một đế quốc phương Đông hùng mạnh trong suốt mấy ngàn năm, nên tham vọng bá quyền để trở lại thời vàng son xưa cũ là một điều âm ỉ, thôi thúc trong tâm tư các nhà lãnh đạo Trung Hoa dù ở bất cứ một thời đại nào. Việc xâm lăng, gây hấn với các lân bang để mở rộng bờ cõi là việc mà đế quốc Trung Hoa đã thường làm trong quá khứ; và nhất là TQ không phải là một nước bại trận kiệt quệ như Đức hay Nhật Bản sau Thế Chiến thứ Hai, nên việc Trung Quốc phải ép mình để phát triển trong trật tự thế giới đã định sẵn của Hoa Kỳ và phương Tây, đối với họ là điều không thể nào chấp nhận được! Những di huấn mà lãnh tụ họ Đặng để lại cho đảng CSTQ là phải tạm thời ‘thu mình lại, che dấu nanh vuốt; lo phát triển sức mạnh toàn lực của quốc gia; ẩn nhẫn chờ cơ hội’ (bide time)! Người Trung Quốc đã ẩn nhẫn chờ thời cơ, lo phát triển đất nước trong suốt ba thập niên qua. Chiến lược “Vươn-lên-trong-hòa-bình” (Peaceful rise) của người Trung Hoa, về một phương diện nào đó, đã có những điểm tương đồng với chủ trương ‘Mutual responsible stakeholder’ của người Mỹ, nên Washington vẫn để yên, thậm chí còn khuyến khích TQ tham gia gánh vác, chia sẽ trách nhiệm với Hoa Kỳ, trong những vấn đề hệ trọng của thế giới như vấn đề thay đổi khí hậu, ô nhiễm môi sinh, chống khủng bố, tham vọng sản xuất vũ khí nguyên tử của Iran, Bắc Hàn ….

Nhưng cho dù hiện nay Hoa Kỳ là một thị trường tiêu thụ chính yếu, chết sống của hàng hóa Trung Hoa ( để đảm bảo mức tăng trưởng kinh tế tối thiểu hàng năm 8%, tối cần thiết cho việc duy trì quyền lực lãnh đạo chính trị độc tôn của đảng CSTQ, tránh những sự bạo loạn, nổi dậy đòi quyền sống của người dân nghèo TQ), và TQ cũng là nước có lợi nhiều nhất trong việc phát triển kinh tế nhờ sự ổn định, an ninh của khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á, do sự hiện diện của Hoa Kỳ như một tác lực gìn giữ an ninh chung và cân bằng mọi ảnh hưởng có thể dẫn tới xung đột vì quyền lợi tại đây, dưới mắt Bắc Kinh, Hoa Kỳ vẫn luôn luôn là một ‘ đối thủ chiến lược’ (Strategic Rivalry) và là một trở lực chính ngăn cản việc thống trị vùng châu Á-Thái Bình Dương của người Trung Hoa. Các liên minh quân sự của Hoa Kỳ với các nước Á châu như Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Singapore, Úc, Tân Tây Lan, Thái Lan; và gần đây là sự ve vãn Ấn Độ, một đối thủ chiến lược nặng ký của Trung Hoa tại vùng Nam Á-Ấn Độ Dương là điều làm TQ càng thêm nghi ngờ thiện chí bắt tay hợp tác chiến lược với Trung Hoa của Washington. Thêm vào đó sự hiện diện thường trực của hạm đội thứ Bảy, một hạm đội hùng mạnh nhất của hải quân Hoa Kỳ tại vùng biển tây bộ Thái Bình Dương, cùng các căn cứ quân sự chiến lược tại Okinawa, Nam Hàn, Úc, Phi Luật Tân, và hơn 60% lực lượng tiềm thủy đỉnh nguyên tử của Hoa Kỳ đã được tái phối trí từ Đại Tây Dương về các căn cứ tại Guam, càng làm TQ khẳng định hơn về ý đồ bao vây chiến lược của người Mỹ đối với Bắc Kinh!

Chính sách đối ngoại có phần ‘nhu-mì, mềm-yếu’ của chính quyền Obama trong thời gian đầu, với những nhượng bộ gần như vô điều kiện của Washington với Bắc Kinh (mô thức G2 trong việc giải quyết những vấn đề kinh tế-chính trị thế giới…) đã làm giới lãnh đạo tại Trung Nam Hải đánh hơi được một sự ‘yếu-đuối’ nào đó của phía Hoa Kỳ! Bắc Kinh đã không bỏ lỡ cơ hội để giành thêm nhiều nhượng bộ nữa từ tay Washington! Từ thái độ trịch thượng của TQ tại hội nghị Copenhagen Climate Summit 2010, khi chỉ gởi một viên chức cấp thấp tham dự một diễn đàn quan trọng của các vị nguyên thủ quốc gia về chủ đề thay đổi môi trường và khí hậu của địa cầu ; cho tới việc giới lãnh đạo TQ khăng khăng chống lại mọi áp lực của Hoa Kỳ và phương Tây nhằm yêu cầu TQ thẩm định lại giá trị thưc của đồng Nhân Dân Tệ theo thời giá thị trường để giảm bớt sự mất cân đối của nền kinh tế toàn cầu. Thái độ ‘nhẹ tay và cản trở’ của Trung Hoa đối với những biện pháp chế tài của Hội Đồng Bảo An LHQ nhằm trừng phạt Iran về việc sản xuất năng lượng hạt nhân. Và có lẽ sự binh vực, bao che cho hành vi gây hấn của Bắc Hàn trong vụ đánh chìm chiến hạm Cheonan của Nam Hàn hôm tháng Ba; cũng như thái độ khẳng quyết của Bắc Kinh trong việc tuyên bố xác nhận ‘chủ quyền không thể tranh cải trên toàn bộ biển Đông’ là nằm trong những ‘quyền lợi thiết yếu’ của Trung Hoa ( tại Diễn Đàn An Ninh Khu Vực Đông Nam Á mở rộng--ARF, tổ chức tháng Sáu vừa qua tại Hà Nội), đã khiến Washington phải rà xét lại toàn bộ chiến lược đối phó với một Trung Hoa mà đường lối đối ngoại đã ngày càng trở nên bá quyền hung hãn?! Những tuyên bố mới đây nhất của Bộ Trưởng Quốc Phòng và Ngoại Giao Hoa Kỳ tại các hội nghị và diễn đàn tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và nhất là lời chỉ trích công khai của TT Obama về việc Bắc Kinh cố tình nhắm mắt làm ngơ trong vụ chiến hạm Cheonan (cùng với hàng loạt những cuộc tập trận qui mô của hải quân Hoa Kỳ và các nước đồng minh tại vùng tây bộ Thái Bình Dương), là những tín hiệu rõ rệt cho thấy một sự đổi thay trong đường lối của Washington đối với tập đoàn Trung Nam Hải.

Cho đến nay vẫn còn quá sớm để biết được tương lai của vùng châu Á-Thái Bình Dương và quan hệ giữa hai đại cường Hoa-Mỹ sẽ đi về đâu?! Có một điều rõ rệt là sự lặp đi lặp lại (mà gần đây nhất là trong buổi nói chuyện của TT Obama với các sinh viên tại University of Texas, ở Austin, Texas, August 9, 2010) về hướng phát triển kinh tế tương lai của Hoa Kỳ trong vòng 5 năm sắp tới, “ là phải gia tăng số lượng sản phẩm xuất khẩu lên gấp đôi, mà các thị trường lớn của các nước đang phát triển như Trung Hoa là ‘mục tiêu ưu tiên nằm trong tầm nhắm’ của Hoa Kỳ (NEI-National Export Initiative-State of the Union, 01/27/2010—Stratfor Global Intelligence).”

Với sự vỡ mộng của Washington về vai trò ‘Người Cổ Đông đầy Trách Nhiệm’ của Trung Hoa qua những hành vi phá bĩnh của Bắc Kinh trong những vấn đề quốc tế nóng bỏng mà Washington đang cần sự hợp tác của TQ để cùng giải quyết. Nhất là thái độ quá hung hăng của Trung Nam Hải trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng, cùng với việc phát triển quân đội qui mô, mà rõ rệt nhất là sự hiện đại hóa của lực lượng hải quân TQ, việc phát triển kỹ thuật chiến tranh tin học, và không gian… đã làm e ngại không những Hoa Kỳ mà còn gây hoang mang lo sợ cho các quốc gia tại vùng châu Á-Thái Bình Dương. Phản ứng của Washington trong thời gian sắp tới chắc chắn sẽ gây rất nhiều khó khăn và bất lợi cho Bắc Kinh. Việc ép buộc Trung Quốc phải mở rộng việc tiêu thụ hàng hóa xuất khẩu của Mỹ, đồng nghĩa một cách gián tiếp với việc thả nổi giá cả của đồng nhân dân tệ theo thời giá thị trường, chắc chắn sẽ gây khó khăn cho hàng hóa xuất khẩu của Trung Hoa, mà nền kinh tế lệ thuộc vào xuất khẩu đến 40% tổng sản lượng quốc gia (GDP)! TQ có quyền phản ứng lại áp lực đó, nhưng nếu Âu Mỹ cùng quyết định trả đũa việc bảo hộ mậu dịch nầy của Trung Hoa bằng cách hạn chế nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc; chắc chắn những tác hại đối với nền kinh tế của TQ sẽ vô cùng lớn lao, như những cơn bão tố, cuồng phong có thể làm sụp đổ cả đất nước Trung Hoa do những bất ổn, bạo loạn phát sinh trong xã hội! Sự thiếu hụt hàng hóa tiêu dùng có thể tạo nên vài khó khăn nào đó cho đời sống của người dân Âu Mỹ, nhưng Hoa Kỳ và các nước Âu châu có thể khắc phục bằng hình thức tự điều chỉnh nhu cầu tiêu thụ, hay nhập hàng hóa từ những quốc gia khác mà giá cả và chất lương không thua kém gì hàng hóa của Trung Hoa (Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Columbia, Panama...). Những hướng chuẩn bị cho việc chuyển vốn liếng và phương tiện sản xuất từ thị trường Trung Quốc sang các quốc gia khác như Việt Nam, Mexico, Columbia, Indonesia... nơi có nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho việc sản xuất của các tập đoàn đa-quốc-gia Mỹ là một phương thức nhằm đối phó với những áp lực ngày càng gia tăng tại thị trường Trung Hoa.

Mặt khác, Trung Quốc cũng có thể thi hành biện pháp cuối cùng ‘cùng-tự-hủy-diệt’ (mutual destruction!) bằng cách bán đổ bán tháo (dump) các ‘treasury bond’ của Hoa Kỳ, nhưng với tổng trị giá của các công khố phiếu nầy lên đến hàng ngàn tỷ đô la, thì quốc gia bị cơn địa chấn tài chánh nầy làm sụp đổ đầu tiên là Trung Hoa chớ không phải Hoa Kỳ, hay các nước đồng minh phương Tây!!

Song song với áp lực kinh tế, Washington cũng đã gia tăng áp lực quân sự qua những cuộc tập trận nhằm phô diễn sức mạnh với hải quân của các nước đồng minh tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, như một hình thức cảnh cáo giới diều hâu tại Trung Nam Hải không nên vọng động. Sự ve vãn của Hoa Kỳ với các nước có vị trí quan trọng tại khu vực Đông Nam Á như Việt Nam, Nam Dương, Mã Lai, Tân Gia cũng không ngoài mục đích thắt chặt vòng vây, chẹn lối ra biển khơi của con rồng đỏ Trung Hoa!

Trong vài thập niên tới, biển Thái Bình có êm ả như cái tên thường được gọi, hay sẽ cuồng cuộng bão tố phong ba, nhận chìm luôn cả châu Á-Thái Bình Dương, tùy thuộc phần lớn vào khả năng kiềm chế con mãnh long Trung Hoa của Hoa Kỳ và các nước đồng minh trong khu vực! Trung Quốc đã, đang, và sẽ không bao giờ là một ‘Cổ-Đông-đầy-Trách-Nhiệm’ như thế giới vẫn hằng mong đợi. Chiếc mặt nạ ‘Vươn-lên-trong-hòa-bình’ (Peaceful rise) của tập đoàn Trung Nam Hải đã sớm rơi rụng qua những biểu lộ tham vọng bá quyền quá sớm và quá lộ liễu! Chính nhờ biển Đông và cơn đói khát nguyên-nhiên liệu không hề thỏa mãn mà thế giới thấy rõ được dã tâm và lòng tham lam vô bờ bến của một nước Trung Hoa Cộng Sản. Những kinh nghiệm lịch sử đau thương vẫn còn in đậm nét trong trí nhớ loài người về một Đức Quốc-Xã với chính sách siêu chủng tộc, hay một Nhật Bản quân phiệt với chiêu bài Đại Đông Á (châu Á của người Á châu !) đã đưa nhân loại vào cuộc đại chiến lần thứ hai tàn khốc và hủy diệt! Tất cả những chế độ độc tài đều có chung một mẫu số: tham vọng bành trướng bá quyền, dùng chiến tranh thôn tính để cướp đoạt đất đai, tài nguyên và sức lao động của các dân tộc khác để về phục vụ cho quyền lợi của chế độ và quốc gia mình. Cộng Sản Trung Hoa cũng không ở ngoài thông lệ đó! Chính sự ươn hèn của hai cường quốc Anh, Pháp khoanh tay ngoảnh mặt, để mặc tình cho Đức Quốc-Xã và Liên Sô xâu xé Ba Lan tháng Chín năm 1939, đã khuyến khích Hitler sử dụng vũ lực để thực hiện tham vọng mở rộng bờ cõi, khơi mào cho cuộc Đai Chiến Thế Giới lần thứ Hai với hàng chục triệu sinh linh tan nát; gây đổ vở, tàn phá, điêu linh cho biết bao dân tộc và quốc gia trên thế giới! Lich sử vẫn có thể tái diễn lần nầy, nếu Hoa Kỳ và các nước đồng minh không cương quyết trong việc đối phó với âm mưu bành trướng, bá quyền của Bắc Kinh, qua những đòi hỏi về lãnh thổ và chủ quyền vượt quá mọi giới hạn, qui định của luật lệ hay công ước hiện có của loài người! Siết chặt chiếc vòng ‘kim-cô kinh tế’ trên đầu con rồng đỏ Trung Hoa để phân xả toàn thân con mãnh long ra từng mảng theo địa hình ‘Bắc-Nam’, ‘Trung Châu- Duyên Hải’, hay theo địa dư chính trị, ‘Hán, Hồi, Mông, Tạng, Mãn’; có lẽ là phương cách hay nhất nên làm để bảo vệ hòa bình thế giới, cũng như để giải phóng cho các dân tộc vẫn còn đang bị độ hộ áp bức trên lục địa Trung Hoa từ bao thế kỷ nay!

Bang Pham
California, Tháng Tám Năm Hai Ngàn Mười.

 

 

 


Email : ctctkhoa4@yahoo.com