Trái tim tên du đảng.

*Hoa Biển


Bê, Nguyễn Thị Bê, cái tên nghe chẳng hấp dẫn tí nào, nhất là sinh ra, lớn lên trong một thành phố mơ mộng đầy huyền thoại là Huế.Hơn nữa căn phố nhỏ nhà Bê nằm quanh một khúc đường cong, hẹp, nhà cửa lụp xụp lại mang cái tên nghe chẳng “kêu” chút nào: Chợ Đồn. Đó là vùng đất xưa kia có đồn Tây đóng, gọi là Mang Cá nên quanh quẫn có khu gia binh và sinh hoạt chợ đò, từ đó có tên Chợ Đồn và lưu giữ địa danh cho đến ngày nay. Khu phố đìu hiu dân cư thưa thớt, và cái tên Bê cũng khiêm tốn nhưng nhập vào làm hài hòa, cân đối khung cảnh thời gian cả không gian. Thế nhưng, Chợ Đồn được biết đến hơn hết vào độ ấy khi đám học trò lớp 11, 12 từ trường Nguyễn Du, Nguyễn Tri Phương, Hàm Nghi, Quốc Học như là xếp hang trồng cây “si” trước cổng nhà, ngôi nhà đìu hiu khép nép xóm nhỏ đó, nơi Bê sống với mẹ già và đàn em.
Nữ sinh trường Nguyễn Du, không bầu bán , nhưng vị trí Bê bật lên hàng đầu trong đám nữ sinh và nghiễm nhiên trở thành hoa khôi thiên hạ.Từ học sinh đến thầy giáo, khi thoáng nhìn Bê, chắc ai cũng không khỏi bâng khuâng bởi trái tim đập vội vả mỗi khi trộm nhìn… Bê có mái tóc thề ngang vai, màu đen đầy huyền thoại, bồng bềnh như gió nhẹ Hương Giang. Cô có gương mặt trái xoan hiền thục, mắt to đen như nhốt cả bầu trời trong đó, đôi mi dài quắn thật đa tình,. Khi cười nói, má trái lúm một đồng tiền to bằng ngón tay út, kể cả khi ăn cà rem, ya ua, ổi. Nhìn cái miệng nhai thật có duyên, ai nhìn cũng mê tơi, quên cả đạp xe, dễ tông nhau trên đường phố.
Bê có thân hình thon thon, cao cao trong tà áo trắng nữ sinh với chiếc cặp tay hay ôm sát ngực như cố che đường cong mỹ-miều đó với ngày ngày hai buổi đến trường và đã làm điêu đứng biết bao con tim những chàng trai xứ Huế.
***
Tân, người sĩ quan Hải Quân thời 74, 75, thuyền trưởng tuần duyên Coast Guard, một đơn vị bố phòng cửa bể Thuận An và phụ cận thuộc Hải Đội Duyên Phòng. Vốn người địa phương con nhà nông, ruộng đồng kham khổ đời nhà quê đã nung nấu ý chí học hành và quyết tâm vươn lên . Anh vượt qua cửa ải Tú Tài Toàn một cách vất vả vì suốt hành trình từ lớp 6 đến lớp 12, mỗi tháng đều phải bới gạo cơm, tiền tiêu từ những thùng thóc của bố mẹ qua hai mùa lúa. Anh cũng biết thấm thía nỗi niềm khi quê mất mùa do bão lụt, phèn chua hay nước mặn Thuận An tràn ngược lên miền đất thịt quê mình để đẻ ra bao nỗi nhiêu khê do mất mùa như chạy gạo, chạy tiền cho con ăn học. Phương châm là ba Tân chỉ dạy một câu đơn sơ mà thấm thía: rán học đi con kẻo như ba suốt đời con trâu đi trước, cái cày đi sau… cho nên sau bảy năm trung học, cái đít Tân chai dày lên vì đạp xe, mặt dày mày dạn vì mưa nắng xứ Huế cũng như trái tim biết làm ngơ trước những cám dỗ và mật ngọt tình yêu tuổi dậy thì, nhất là những tà áo trắng nữ sinh Đồng Khánh, tóc thề ôm cặp đen dưới đôi hang phượng vỹ Lê Lợi. Thuở học thi, anh vì nghị lực do hoàn cảnh tạo nên, biết xếp vào góc sâu những lá thư tình đơn sơ đời học trò.Trường lớp anh học luyện thi thời đó, học sinh lớp 11, 12 hầu như không có mùa hè, chỉ biết “gạo”, “gạo” mà thôi.Thế nên khi đậu Tú Tái một, anh đã nhìn thấy tương lai hé dạng, ít nhất cũng được lon chuẩn úy trên ve áo, thoát được cánh gà (trung sĩ), gần hơn, thi vào Sư Phạm Quy Nhơn cũng được vai nhà giáo, hoặc là cán sự v.v… Anh như con thiêu thân, mọt sách khi cố vượt qua ải Tú Tái hai và cuối cùng anh đã thắng.

 


Gia nhập Hải Quân năm 1969 do bị cuốn hút bởi một tấm bích chương “Quê Hương và Biển Cả” nơi in hình con tàu rẽ sóng hiên ngang bảo vệ lãnh hải tổ quốc .Trước bao ngại ngùng của bố mẹ và cả một đàn em dài mười đứa, anh mạnh dạn ra đi, tìm mộng hải hồ, vừa làm nghĩa vụ đời trai ly loạn, vừa làm nhẹ gánh gia đình để bố mẹ lo được đàn em.
Năm 1972, cơn bão Hester lại tàn phá miền Trung vốn bị tan thương đọa đày của biến cố Mậu Thân 1968 .Niềm đau bất hạnh chưa dứt bởi cảnh chồng, cha bị Việt Cộng lùa đi và chôn sống tại Phú Thứ, Xuân Ổ, Xuân Đợi thì tai ương ùa tới: Trên xứ nghèo vùng hạ lưu sông Hương, những khối nước trên những cơn sóng khổng lồ lùa đi nhà cửa, heo gà. Gió mưa cuốn đi bao nhiêu hy vọng cơm áo của dân nghèo: đê đập bể lở, cây ngã rụi ngổn ngang, nhà sập, vách xiêu vẹo,lúa gạo khoai sắn ướt mem,heo ca gà vịt xơ xát. Làm sao tả xiết nỗi cơ hàn, khiếp sợ khi từng luồng gió nhổ lên từng nóc nhà, từng bụi cây rồi lùa ra sông tống về biển cả. Thật là khủng khiếp khi thấy vài người vì tiếc của, níu bám nóc nhà để đừng bị giựt trôi đi, vốn đó là gia tài chắt chiu của năm tháng cần cù ruộng nương.Thế nhưng cơn gió vô tình và tàn bạo, hất tung mái và người, và thổitung ra sông trôi bềnh bồng về cửa Thuận An. Trong cơn khủng khiếp bão táp đó, không ai khỏi rụng rời khi thấy hình ảnh một người cố bám chăc lấy mái nhà tranh đang bị cơn sóng thần đưa lên dụt xuống theo gió và nước rồi trôi về biển khơi.
Sau cơn bão khủng khiếp đó, quê hương Huế hồi sinh, giao thông,chợ búa,ruộng đồng hàn gắn trở lại trong bao nỗi vất vả của chính quyền và người dân .Ai đã từng gắn bó với đất khổ này có còn nhớ thảm cảnh không nhà, không cửa, đói rét của người dân quê vùng hạ lưu song Hương vào mùa mưa bão. Chính phủ Việt Nam Cọng Hòa ban chỉ thị cấp cứu để xoa dịu niềm đau của người dân. Rất nhiều phái đoàn cứu trợ đến Huế mang theo thực phẩm, thuốc men, áo quần. Trời ơi, làm chi mà đọa đày cho dân miền Trung rứa, sau Mậu Thân lửa khói ngập trời, nay bão lụt tơi bời phủi sạch lúa gạo heo gà nhà cửa ruộng vườn! Đơn vị Tân được chỉ định chở phái đoàn cứu trợ, lương thực, thuốc men đi đến các vùng bão lụt tàn phá nặng nề nhất . Huế đã làm xúc động trái tim bao người, người ta thấy từ em bé học sinh đến viên công chức, chị tiểu thương từ miền Nam xa xôi đều nhịn từng đồng nhỏ, bỏ vào thùng cứu trợ cho Huế. Bên những gói quà gồm lương thực, áo quần, thuốc men là những toán học sinh nam nữ trường Quốc Học, Nguyễn Tri Phương, Thiên Hữu, Nguyễn Du mặc đồng phục mang phù hiệu “Cứu Trợ Bão Lụt” tung ra dọn dẹp đường xá, phát quà,thực phẩm cứu trợ,áo quần cũ nhằm an ủi xoa dịu niềm đau thương của người dân nghèo nàn khổ đau này. Tân choáng ngợp, ngất ngây trước vẻ đẹp thiên thần của Bê trong đoàn cứu trợ. Trên đài chỉ huy, anh như lạc hồn bên máy “lập lệnh” khi truyền lệnh đi cho ban giám lộ, vận tải. Lại vụng về hơn thường nhật trước những lằn mực xanh nhạt trên tấm hải đồ khi chỉ hướng đi cho con tàu.Thỉnh thoảng lại hỏi những câu hỏi vu vơ trống nghĩa bên người phụ tá về hải trình.
Bê liếc nhìn Tân chiêm ngưỡng : Hình dáng thuyền trưởng thật oai vệ và đầy quyền uy! Cả một con tàu to lớn đầy máy móc kỳ bí và hiện đại dưới tay anh ngoan ngoãn chẻ sóng đi về xa xăm. Tân, mặt nhìn về trước, miệng ban lệnh cho nhân viên hải hành, hoặc nhân viên giám lộ, tay trái giữ ống nói liên hợp, để điều động với đơn vị bạn hàng ngang, hoặc nhận lệnh chỉ huy từ trên ban xuống. Tay phải giữ ống nhòm, nhìn và ước tính mục tiêu đi và đến. Trên đài chỉ huy, bộ áo quần màu biển bạc màu bọc gió phất phới trong khi âm vang cơ khí của con tàu đều đặn, ngọt ngào…
Hai người gặp gỡ và quen nhau từ đó. Anh em trong đơn vị xuýt xoa chiêm ngưỡng: Thật là trai tài gái sắc, hoặc là trai hào hùng gặp gái thuyền quyên. Sau những chuyến công tác, họ gặp nhau, ngây ngất trong tình yêu tuổi trẻ. Một đôi lần lên bờ, anh dựa gốc cây trước cổng trường, chờ Bê tan học, đôi trai trẻ sánh bước bên nhau trước bao cặp mắt hờn ghen của bè bạn. Sau đó một năm, Bê xếp sách vở, cặp da lại, cho vào góc tủ – theo chồng lên xe hoa về làm vợ và giả từ thơ ngây đời học sinh. Sau lễ cưới họ về chung sống ở đơn vị, trong cư xá hải quân .Bê không làm dâu một ngày, cô chỉ biết lờ mờ về quê chồng ở làng Thuận Hòa, huyện Quãng Điền và dĩ nhiên Xê không biết nhiều về những người dân quê chồng…
Khi biến cố 30/4 đến, Tân đang công tác, tàu anh đang hải hành vùng Phú Quốc.Xa bờ,con tàu tiếp tục xa tổ quốc khi Việt Cọng tràn vào thành phố. Anh đấu tranh với con tim căng thẳng, quá nặng lòng với người vợ trẻ và đứa con mới chào đời một tháng rồi quyết định nhảy qua một ghe cá,buông trả con tàu thân yêu cho đồng đội để trở về lại đất liền… Tân cố giấu mặt, không dám nhìn con tàu mình xa dần quê mẹ.Tình yêu sông nước đời hải hành trả lại anh những phút giây nghẹt thở vì xúc-động .Đại dương một màu xanh như làm mờ mắt,che cả lối về.Khổ thay, khi mới ghé lại bến bờ Sài Gòn cũ, anh bị toán Việt cọng thuộc ban quân quản Sài Gòn hốt đi khi anh chưa kịp nhìn lại người vợ trẻ yêu quý và đứa con dại thương yêu và đó là khởi đầu một chuyến đi mà anh phải gỡ bảy cuốn lịch.
***
Bê mất lien lạc với chồng khi chàng bị bắt – loay hoay mãi mà không biết làm chi hơn để bớt thương nhớ chồng, cuối cùng Bê quyết định bồng con về quê. Phải thu hết can đảm mới có thể cất bước trở về, thành phố vẫn sông núi hữu tình.Những ngôi trường xưa nơi in dấu bao kỷ niệm, vô tình làm sống dậy những rộn ràng yêu đương, ngập tràn kỷ niệm…Làm sao đương đầu với cuộc sống mới trắng tay trong cảnh đời đầy hỗn loạn khi người thương giờ xa biền biệt với dứa con dại tháng tuổi trên tay.
Thời gian dần trôi, trôi lạnh lùng. Bê quen dần những đổi thay,những ngột ngạt của đời sống trong chế độ mới.Hằng ngày cô phụ mẹ cột rau đi chợ, mua đi bán lại từ các cửa hàng để kiếm tí tiền lời phụ với gia đình qua cơn đói. Lam lũ, vất vả quá, hình bóng chồng lúc ẩn lúc hiện. Khốn khổ thay, được hơn sáu tháng sau ngày miền Nam sụp đổ thì mẹ Bê lâm bệnh phổi, không còn sức buôn tảo bán tần nữa .Khổ thay,cả gia đình toàn là con gái cộng thêm cả đứa con dại của Bê nữa là quả một gánh nặng cơm áo cơ mang tả xiết.
Cuộc đời thật tàn nhẫn, nhất là khi sa sút thì bị khinh khi – gia đình trở nên neo đơn và cô quạnh, cơn đói lấp lú đe dọa mạng sống của gia đình. Bê đem bán từ những vật kỷ niệm của chồng thời hai đứa còn ở cư xá sĩ quan như chiếc quạt máy để bàn Sanyo , chiếc mùng tuynh màu xanh da trời nhạt tuyệt đẹp, chiến mền dạ US gọn và ấm, đau lòng nhất là chiếc đồng hồ seiko số 5 và cái áo field jacket chồng thường mặc khi đi hải hành mùa Đông… Thế nhưng vì sự sống còn, phải bán dần, bán dần để sinh tồn.
***
Phú Văn Lâu là một công viên rộng, cây cảnh im bóng mát cả mùa hè. Có những phiến đá để du khách nghỉ ngơi, ngồi thư giãn đầu óc nhìn ra dòng sông Hương thơ mộng với màu nước xanh rì dịu dàng.Phía trái là hai chiếc cầu: Cầu Mới và Tràng Tiền nối liền hai bờ hữu ngạn và tả ngạn thành phố Huế – Đối diện công viên là đường Lê Lợi với hai hàng phượng mà mùa hè đỏ thắm từ Tòa Tỉnh đến Tòa Đại Biểu nơi dập dìu những tà áo nữ sinh Đồng Khánh và những tinh hoa học sinh Quốc Học. Phía phải là cầu Bạch Hổ, trấn mặt Tây cho thành phố Huế với cồn Giả Viên nơi chiếc tháp nước cao vời vợi nhìn ra song Hương thơ mộng…

 


Công viên Phú Văn lâu cũng là nơi dừng chân của những đoàn quân xa từ Lào qua lại. Xe luôn chở đầy hàng hóa từ Lào qua như bột thạch cao, gỗ quý và từ cảng Thuận An qua Lào như máy móc, thiết bị nhập cảng. Ngoài những đoàn xe quá cảnh nầy, còn có những quân xa của Hà Nội vào Nam chở quân dụng, sản phẩm kỹ nghệ ,vật liệu xậy dựng, đặc biệt là những tài sản nhân dân miền Nam bị bức chiếm đem về miền Bắc.
Địa điểm dừng chân trạm Phú Văn lâu thu hút biết bao người vì sự thoải mái và tiện ích cho những tài xế đường dài. Khi dừng quân, họ có thể mua tất cả những gì họ muốn từ đồ kỷ niệm, đồ ăn, đồ uống, đồ cũ, di sản bán đi và xa hơn, nhiều món nữa,… Kẻ bán chỉ thủ một tấm ny long nho nhỏ, trên kê một hai món đồ ăn hoặc đồ uống hay một món hàng. Khi công an đến, thì cuốn chạy, rất dể trốn. Những tài xế chỉ cần thảy một can xăng, một cây vải mua từ Lào, một bình thủy Trung Quốc và đôi khi không cần đến ngân bản vị, kim bản vị mà là kinh tế trao đổi thôi… vì đây là điểm nóng trong thời đói rách 1977, 1978, 1980 nên biết bao chị em về đây lợi dụng điều kiện trao đổi để buôn bán kiếm lời, kiếm ăn cứu đói vì giai đoạn này đói rách tang thương và trầm trọng nhất trong lịch sử Việt Nam . Bê đã dấn thân vào kế sinh nhai này để cứu nguy gia đình mình.
Yên là một tay chơi, người cao, môi dày, da đen bồng quân, dáng dấp ngang tan2g. Khi cười hắn có đôi môi chẻ và cái miệng rộng trông thật khó khuất phục một ai. Hắn có nhiều hiểu biết rộng về ăn chơi và gian hùng. Vốn thất học và ngang tàng từ bé, trong làng ai cũng sợ,ít ai bè bạn cùng hắn. Yên cùng độ tuổi và ở cùng xóm với Tân. Biết nhau kỹ mà không thân vì ở hai sắc thái khác biệt. Yên là một dân chơi, không biết sợ một ai, khi Việt Cộng lên, muốn bắt nó để tra hỏi một điều gì, nó cũng cãi cứng lý, xem thường dọa dẫm, rốt cuộc rồi cũng chẳng nhốt nó được ngày nào. Khi còn bé, dân làng biết rõ Yên vì nó hay chửi cha, tỏ ra mất dạy. Khi chiến tranh đến, Yên đi nhiều sắc lính và đào ngũ nhiều lần. Có một lần khi Yên trốn nhà lao về làng, cha Yên trình Xã vào bắt, nghĩa quân vất vả lắm mới áp tải Yên ra xe để giải đi quận. Trẻ con tò mò và phát sợ khi nhìn đằng sau lưng áo Yên mặc có in hàng chữ “Lao Công Đào Binh”.
Sau 1975, Yên là một tay chơi giang hồ, đi xe Vespa, đội mũ Fox, miệng luôn ngậm tẩu và có nhiều đàn em du đảng. Yên sống không cướp trộm một ai, chỉ trộm vàng của cải ông già. Cha Yên vốn có tiếng đồn được vàng lá. Suốt đời ông không làm mà ăn, cũng là dân chơi bốn mùa, biết rõ từng chỗ, từng nhân vật chị em ta trên bến đò sông Hương. Ông ta góa vợ từ bé và sống một mình đơn độc như thế.
Yên thảy từ lượng này đến lượng khác để ăn chơi, hắn rất phong lưu và sành điệu – có điều là mỗi khi bị công an xét hỏi và điều tra, hắn tỏ ra thông suốt khi đối đáp,ứng xử nhanh và ít khi bị giữ lại. Từ đó, hắn có tên là “Yên Sành Điệu”
***
Mùa Xuân năm 1980, khi Tân không còn mơ mộng gì đến ngày tha ra được nữa, vì thời gian đã làm Tân biết chịu đựng, hết ngây thơ trước những tráo trở, lừa bịp của tụi cán bộ trại. Bên cạnh đời sống nước sông công tù, Anh nhớ thương vợ con thật nhiều và đôi khi cố xua đuổi đi những suy nghĩ không hay, những ảnh hưởng của đời sống vì thời gian như vô vọng. Mỗi ngày ngoài giờ lao động, anh dồn tâm trí vào việc đan cho vợ chiếc giỏ bằng cật mây làm kỷ niệm, hoặc dũa mài cho vợ chiếc trâm, chiếc lược cài. Công việc tỉ mỉ đó giúp anh vượt qua khoảng thời gian dài khủng khiếp. Anh có một bức hình hai mẹ con mà khi buồn buồn, đem ra ngắm, rồi lại cho vào túi… Cứ thế thời gian trôi, trôi mãi…
“Yên Sành Điệu” một hôm vào sân bãi Phú Văn Lâu, hắn ngang tàng hỏi thăm các cô bán hàng “chạy” như lệ thường. Bỗng nhiên hắn bàng hoàng ánh mắt khi nhìn một cô gái son trẻ:
-Sao em làm cái nghề bán này? Quá vất vả cho một cô gái quá xinh như thế nầy..!
-Chỉ vì biết làm chi đây kiếm ăn, đi học rồi lấy chồng. Chưa biết nghề ngỗng gì cả.>
Hắn tròn mắt hỏi:
-Em có chồng rồi hả?
-Chồng em bị đi cải tạo từ sau 75 ở miền Bắc xa xôi lắm, tận Hoàng Liên Sơn. Anh nguyên là sĩ quan Hải Quân, rất bản lãnh và đa năng đa hiệu.
Yên chú ý hơn, môi bớt cười, hơi nghiêng chút chút hoài nghi, sao giống hoàn cảnh của thằng bạn cùng xóm vậy cà? Hắn có vợ một con, lính Hải Quân bị đi cải tạo biệt tăm từ đó đến giờ.
-Xin lỗi! Người chồng em tên gì và quê ở đâu?
-Chồng em là Tân, người làng Thuận Hòa, Quãng điền, Huế.
Yên bỗng im lặng đến sững sờ .Một cái gì đó ở một nơi rất xa trong ký ức chợt tìm về.Anh ta thoáng đăm chiêu tư lự và không muốn nói nữa.Đứa bạn cùng xóm cùng trường thuở còn mặc quần đùi đi học đây mà…Yên cười thân thiện và ngỏ ý xin đưa cô gái về nhà. Anh gởi một số tiền để mua quà cho cháu nhỏ và khuyên bằng mọi cách phải sống mà nuôi con thay chồng vì nghĩ rằng đó là cách thương chồng cao quý nhất. Bê im lặng suy nghĩ giây lát và nhận lấy vui vẻ. Yên tiếp:
-Tôi ăn có nơi, chơi có chốn. Đi giang hồ mười phương tôi phải chừa một phương. Nay tôi nguyện sẽ làm người che chở cho cô bằng bất cứ giá nào. Tôi thề có trời cao làm chứng không bao giờ đụng đến cô, dù chỉ một sợi tóc. Khi gặp hoàn cảnh xấu cần tôi giúp, nhớ nhắn tôi. Cứ nói với tụi bụi nhóc quanh đây là đến tai tôi ngay. Tôi nói ít và chỉ vậy thôi.
Từ sau đó, bãi Văn Lâu vắng bóng cô gái xinh đẹp bán hàng dạo nào – khách qua đường sành điệu thấy thiếu thiếu cái gì thật gần mà xa, thật thương mà nhớ.Nhiều người thương thầm vì thấy nỗi gian truân cơm áo khi còn quá trẻ. Có những chuyến xe dừng nhanh hơn rồi đi, nhiều gã tài xế đa tình còn ngân nga “phố vắng em rồi…”. Qua ánh mắt, nụ cười, dáng dấp Bê đã tạo một hiện tượng hiếm quý trong giai đoạn xã hội lầm than này, cô là một đóa hồng đầy gai nhọn, là một thoáng hương mùi dạ lý làm ngây ngây nhiều người… và thời gian tiếp tục cho vào quên lãng biết bao niềm lận đận… Người đàn bà trẻ,đẹp đó chắc đang chuyển một lối đi khác, có còn bất trắc và nhiều trăn trở trước hoàn cảnh mới không đây?
***
Năm 1982, Tân ra trại, về quê sum họp gia đình. Niềm vui sướng tợ “Cửu hạn phùng cam lộ” gọi là nắng hạn lâu ngày gặp mưa rào. Kết quả năm 83 bé Bo chào đời. Bo ra đời do kết tinh của bao nhớ thương đè nén.Anh trìu mến dặt cái tên nầy để nhớ những ngày ở trại với chén bo bo cầm hơi mà trái tim thì cứ dệt biết bao vần thơ thương nhớ.Bo đẹp và thông minh – và an ủi lớn cho Tân nhiều, anh đọc được những giây phút hạnh phúc của đời người, dù đời sống tệ hại nhất trần đời đang dập vùi họ.
Mọi người biết chuyện đời đều im lặng hoặc cố tình im lặng, mặc nhiên cứ quy trách cho thời gian và hoàn cảnh. Hai người Bê, Tân đều cố tình tránh né dĩ vãng và xem như bỏ, cứ như không biết, coi như không có, hoặc y như một mụt nhọt đã thành sẹo, hết làm sốt rồi. Hai vợ chồng sống hạnh phúc bằng nghề bán tre bè. Lợi dụng sau nhà là dòng sông Hương, Tân mua một bè tre bán lại cho dân làng khi cần sửa nhà, chẻ lạc… Anh kiêm luôn nghề đan đát thúng mủng, oi, sọt, chơm, đủi… cuộc sống êm đềm mặn mà tiếp tiếp. Sau bé lớn đầu tay, đến Bo khi cải tạo về, , đến bé Tý, tiếp đến bé Ti và cu Kin. Nếu không khóa kỹ thì chắc là tiếp nữa.Ấy thế mà cũng lòi ra thêm một đứa gái là bé Thôi.
***
Cuối năm 1991. Gia đình Tân, Bê cùng sáu đứa con lên đường đi Mỹ theo diện HO 9. Ngôi nhà bên sông Hương đó cũng là một bến tàu cho khách từ thành phố Huế về quê. Xưa nay, từ cậu học trò hiền lành, rồi ông sĩ quan Hải Quân quyền uy, sau đó rời cải tạo thành một người thợ đan đát cần cù chăm chỉ nên dân làng có nhiều cảm tình với mái gia đình có sáu đứa con kháu khỉnh nầy. Thế nên khi xách gói ra đi trên con tàu rời xa quê, dân làng hiếu kỳ pha mến mộ tụ tập bên bờ sông im lặng tiễn đưa. Tàu đi, tiếng động cơ Yanmar nghe phành phạch… Người ta thấy đôi mắt Tân và Bê nhạt nhòa mắt vì xúc động.Nước mắt ứa ra vì xa dân làng hiền hòa,chất phác, hoặc vì đang được đổi thay do con đường đã qua chông gai quá, hay vì hoàn cảnh mới có nhiều hy vọng làm lại cuộc đời. Trong những người đưa tiễn, nhìn kỹ người ta thấy Yên, nay dừng bước giang hồ, trở về làng cũ, hiện làm nghề hớt tóc. Yên cũng sững sờ, tay buông lơi cái dao cạo Donco đang cạo râu cho khách khi nghe tiếng máy nổ đì đạch của con tàu đi. Yên nhìn chăm qua cửa sổ mái tranh của quán hớt tóc, im lặng như đang ngừng thở,như trái đất ngừng quay. Cơn xúc động làm gương mặt hắn tái dần. Với hoàn cảnh phức tạp đó, ở bên nhau họ không bạn mà không thù,chia xa mà không vui không buồn, có uẩn khúc mà không biện minh, không trăn trở. Họ chỉ biết giữ im lặng và sống âm thầm như thế cho đến bao giờ…
Vùng đất Nữ Thần Tự Do, nơi có nhiều cơ hội cho kẻ có tinh thần cầu tiến hẳn không biết trước có một ngày như hiện nay. Với dĩ vãng nhạt nhòa, quá khứ bầm dập cùng nghịch cảnh bủa vây, nay hoàn cảnh mới họ cùng nắm tay dìu nhau vào tương lai cuộc sống. Nơi đây, vùng đất hứa có đủ vị tha, có đủ vô tư để biến tất cả đau thương của dĩ vãng thành nghị lực tiến bước. Tân, Bê bên đàn con ngoan sáu đứa học hành tiến đạt, vững tiến như con tàu của anh chẻ sóng tiến bước ngày xưa. Bên mái gia đình đầm ấm họ thật hạnh phúc nơi xứ người. Họ cho nhau tình yêu và nghị lực như hun nén từ những ngày xa cách đầy thương nhớ nơi chốn tù đày nay được dồn lại: chàng phong trần,lịch lãm và giàu nghị lực bên nàng mỹ miều ,duyên dáng,mặn nồng với đôi môi hồng như thắm đậm lại,đang gởi lại nhân gian những nụ cười…. và quê hương Việt Nam bên ấy mãi mãi là chỗ mến yêu đầy thương nhớ, nơi một thuở có trái tim giang hồ còn biết phân định tình làng nghĩa xóm. Với Tân, Bê trái tim giang hồ đó vẫn muôn đời yêu dấu.
Người không bao giờ điên vì yêu thì sẽ không bao giờ rộng lượng trong tình yêu (Theodor Reil).


Hoa Biển

 

 

 

 

 


Email : ctctkhoa4@yahoo.com