VIỆT NAM TRƯỚC NGẢ BA ĐƯỜNG

 

Hơn sáu thập niên khói lửa đã trôi qua kể từ ngày đảng CSVN phát động cuộc đấu tranh chống Pháp để giành lại ‘độc-lập, chủ-quyền’ cho dân tộc, đất nước Việt Nam đã đi từ hết thăng-trầm nầy đến thăng-trầm khác. Với tang-tóc điêu-linh như một lời nguyền độc ác của định-mệnh, đeo đuổi, đọa đày hàng bao triệu dân lành vô tội! Với cùm gông nô-lệ vẫn nghiệt ngã oằn trên lưng một giống nòi trót sinh ra làm thân-phận nhược-tiểu! Từ tháng Tư năm một ngàn chín trăm bảy lăm đến nay , đã hơn ba thập niên trôi qua với biết bao nổi ưu phiền, trở trăn, ray rứt của những con người còn nặng lòng với tiền đồ của tổ quốc dân tộc, nhìn con thuyền định mệnh của đất nước nghiêng ngả, dập vùi trong cơn sóng dữ ba đào, đang thịnh nộ, hung hãn tràn về từ phương Bắc! Việt Nam đang đứng trước một ngả ba đường, mà mọi lựa chọn đều không hề cho phép bất cứ một sự lầm lẫn nào nữa, nếu không muốn đất nước nầy mãi mãi xóa tên trên bản đồ thế giới! Trách-nhiệm đó hiện đang nằm trong tay những người lãnh đạo của đảng CS, đảng đang nắm quyền cai trị đất nước Việt Nam từ hơn ba chục năm nay.

Sau tháng Tư một ngàn chin trăm bảy mươi lăm, giới lãnh đạo CS Hà Nội ngất ngây trong men chiến thắng: Đánh bại một đế quốc hùng mạnh bậc nhất trên thế giới, thống nhất quốc gia Việt Nam sau hơn hai mưới năm trường chia cắt. Trong ảo giác của men say chiến thắng đó , người CSVN đã tỏ ra vô cùng kiêu căng ngạo mạn, tự sánh mình với các bậc tiền nhân từng đánh Tống bình Chiêm để dựng nước, khước từ mọi đề nghị của người Mỹ trong việc hòa giải và bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước sau một cuộc chiến mà xương máu của hai bên đã đổ quá nhiều. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đánh mất một cơ hội ngàn vàng mà chính quyền Dân Chủ của TT Carter đã dành cho họ, để tái thiết đất nước, để đưa Việt Nam tái hội nhập vào cộng đồng thế giới. Cái giá phải trả cho sự ngạo mạn này, là phải mòn mỏi đợi chờ cho đến hai mươi năm sau, trải qua biết bao khó khăn, cầu lụy, CSVN mới có thể thiết lập được bang giao với chính phủ Hoa Kỳ!

Thực tế thì trong cuộc chiến tương tranh quyền lực giữa hai thế lực Tư Bản và Cộng Sản vừa qua, người CS miền Bắc đã được khối CS xử dụng như một tên lính xung kích tiền tiêu trong nhiệm vụ bành trướng ảnh hưởng của chũ nghĩa Cộng Sản tại vùng Đông Nam Á, một địa bàn chiến lược trọng yếu, nơi hội tụ của mọi đường giao lưu từ các lục địa Á, Âu, cho tới Úc, Phi, Mỹ và vùng dầu hỏa trọng điểm chiến lược Trung Đông. Đối với Hoa Kỳ, Liên Bang Sô Viết lúc đó là một đế quốc lục địa với một lưc lượng quân sự hùng mạnh nhất thế giới, với tham vọng nhuộm đỏ toàn cầu mà địa bàn chiến lược Đông Nam Á là một mục tiêu cần thôn tính để mở rộng vùng ảnh hưởng xuống tận khu vực phía nam, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Philipine nơi có các căn cứ quân sự lớn của Hoa Kỳ và nhất là đe dọa Úc và Tân Tây Lan , hai đồng minh khu vực quan trọng của người Mỹ. Sau thất bại của người Pháp tại chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954, Hoa Kỳ đã chính thức thay thế nước Pháp trong vai trò lãnh đạo khối Tư Bản Tự Do trong cuộc chiến đấu ngăn chặn sự bành trướng của làn sóng đỏ tại Á châu, và miền Nam Việt Nam đã trở thành một địa đầu chiến tuyến, một chốt tiền tiêu bảo vệ toàn vùng Đông Nam Á. Đất nước Việt Nam đã bị các thế lực sen đầm quốc tế biến thành một bãi chiến trường tiêu thụ và thử nghiệm các loại vũ khí cũ và mới; một nơi để mặc cả các canh bạc, đổi chác, phân chia quyền lợi trên toàn thế giới với xương máu của người Việt ở hai miền Nam-Bắc được xử dụng làm đơn vị đo lường cho những lợi thế và thành bại của mỗi phe! Hàng triệu tấn đạn bom đã tàn phá quê hương, hủy diệt mọi tiềm năng kinh tế của đất nước. Hàng triệu sanh mạng của người dân Việt đã bị dập vùi nát tan trong cuộc chiến tương tàn cốt nhục; với vết thương lở lói, hằn sâu của chiến tranh đã làm đổ vỡ, băng hoại xã hội mà chia rẽ, nghi kỵ, hận thù cho đến nay vẫn còn ngun ngút trong lòng người Việt tại cả hai miền Nam-Bắc!

Sự hung hãn và tham vọng của Liên Sô trong thời kỳ chiến tranh lạnh không những làm kinh sợ khối Tự Do mà còn gây quan ngại, lo lắng trong các nước “xã-hội chũ-nghĩa anh em”, nhất là Trung Hoa, một quốc gia Cộng Sản lớn có đường biên giới dài với Liên Sô về phía bắc. Năm 1950, một năm sau khi chiếm được Hoa Lục từ tay của phe Quốc Dân Đảng, Mao Trạch Đông, lãnh tụ đảng CS Trung Hoa đã sang Nga để ký một hiệp ước hữu nghị và tương trợ hổ tương nhằm mục đích thắt chặt quan hệ giữa hai nước Cộng Sản anh em, mà sau đó phía Trung Hoa cho là có sự bất bình đẳng vì Liên Sô đã không đề cập đến việc giải quyết tranh chấp về lãnh thổ tại vùng biên giới giữa hai nước, bao gồm Ngoại Mông tức Cộng Hòa Nhân Dân Mông Cổ, và hàng triệu cây số vuông đất đai mà Nga Hoàng đã chiếm của TQ từ cuối thế kỷ thứ mười chín; cũng như có những điều khoản mật ép buộc TQ phải chấp nhận việc lãnh đạo khối CS của Liên Sô, mà TQ cho là có ý đồ bá-quyền muốn khống chế toàn bộ khối CS quốc tế. Mấm mồng xung đột đã nẩy sinh từ đó.

Sau cuộc tiến quân của quân đội Liên Xô vào Tiệp Khắc năm 1968 để đè bẹp phong trào đòi tự do dân chủ của nhân dân xứ này, và nhất là sau những trận đụng độ đẫm máu tại vùng biên giới Trung-Sô năm 1969; Trung Quốc bắt đầu lo sợ một cuộc tấn công toàn lực của Hồng Quân Liên Xô nhắm vào Trung Hoa như đã từng xảy ra tại các nước CS Đông Âu, nên TQ một mặt dàn hàng triệu quân tinh nhuệ nhất tại vùng biên giới Trung-Sô để bảo vệ phần lãnh thổ phía bắc và thủ đô Bắc Kinh, một mặt tìm cách bắn tiếng muốn đàm phán với Hoa Kỳ trong nỗ lưc tìm cách cân bằng áp lực của người Nga. Người Mỹ đã không bỏ lở cơ hội bằng vàng này, và qua chính sách ngoại giao bóng bàn, Kissinger đã sắp xếp dọn đường cho cuộc hội nghị thượng đỉnh giữa TT Nixon và Chủ Tịch Mao Trạch Đông của TQ. Thông cáo chung Thượng Hải được ký kết giữa Nixon và Chu Ân Lai, Thủ Tướng TQ, năm 1971, mở đầu cho một kỷ nguyên hợp tác mới giữa hai kẻ thù để cùng chống lại một kẻ thù chung, đế quốc Nga Sô Viết. Sự trợ giúp về kinh tế và kỹ thuật của Hoa Kỳ dành cho Trung Hoa , cũng như việc hợp thức hóa vấn đề thừa nhận ngoại giao qua việc vận động đưa TQ vào làm thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc thay thế cho Đài Loan, đã giúp Hoa Kỳ nắm được con ách chủ bài trong kế hoạch chiến lược nhằm bao vây, cô lập, tạo sự bất ổn cho Liên Bang Sô Viết và làm phân hóa hàng ngũ khối Cộng Sản.

Với con chủ bài Trung Hoa (như một tấm lá chắn ngăn sự bành trướng ảnh hưởng của Liên Sô ở Á châu) trong tay, người Mỹ cảm thấy không còn cần đến người bạn đồng minh Nam Việt Nam nữa! Qua sự sắp xếp, đạo diễn của Kissinger và trận không tập mười hai ngày đêm, với sự tham dự của các siêu pháo đài bay B 52, vào Hà Nôi, và Hải Phòng, Cộng Sản miền Bắc chấp nhận ký hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh Việt Nam vào ngày 28 tháng Giêng, 1973; và hai năm sau, ngày 30 tháng Tư năm 1975, miền Nam đươc chính-thức ‘bàn-giao’ cho khối Cộng Sản, để người Mỹ rảnh tay lo giải quyết những vấn đề hệ trọng hơn tại vùng dầu hỏa chiến lược Trung Đông, mà Do Thái, một con ách chủ bài khác của Hoa Kỳ đang sa lầy tại đây. Huyền thoại đánh thắng ‘Đế quốc Mỹ’ của người Cộng Sản Việt Nam đã được nhà cầm quyền Hà Nội thêu dệt ra từ đó! (Dù thực tế cho thấy, người Mỹ thực hiện việc rút lui chiến-thuật khỏi Nam Việt Nam sau khi đạt được mục-tiêu chiến-lược của họ, làm suy yếu, đổ vỡ khối Cộng Sản quốc tế, nhất là ngăn chặn được sự bành trướng ảnh hưởng cuả Liên Sô tại vùng Đông Nam Á châu.)

Sự sụp đổ bất ngờ của Liên Sô năm 1991, đã đẩy CSVN lại gần Trung Quốc hơn, vì sự sống còn của chính bản thân đảng CS VN trong một tình hình thế giới mới với nhiều chuyển biến, đổi thay hoàn toàn bất lợi cho người Cộng Sản, dù rằng hai nước đã trải qua một cuộc chiến tranh biên giới tuy ngắn ngủi, nhưng đẫm máu vào năm 1979, sau khi CS Việt Nam xâm lăng Kampuchia và ký hiệp ước liên minh phòng thủ hỗ tương hai mươi lăm năm với Liên Sô (Tháng Mười Một, năm 1978), đặt Trung Quốc vào thế trận trên đe dưới búa của người Nga!

Những cuộc chiến tranh liên tiếp do đảng CSVN phát động từ kháng chiến chống Pháp, tới chống Mỹ cứu nước, và đánh bè lũ diệt chủng Pon Pot cùng tập đoàn bành trướng Bắc Kinh kéo dài từ 1945 đến 1990, đã làm khô kiệt mọi nguồn nhân-tài-vật lực của đất nước. Với đạn bom dày xéo quê hương, với những thế hệ tuổi trẻ tài năng của đất nước tan nát, thui chột trong lửa đạn của chiến tranh, với một xã hội băng hoại, mục nát mà đại đa số người dân vẫn sống trong đói nghèo cơ cực như hàng trăm năm về trước, với hình ảnh quen thuộc, con trâu đi trước, cái cày đi sau, người CSVN đã mang một trọng tội đối với tổ quốc và dân tộc, khi đưa đẩy đất nước vào những cuộc chiến tranh phi lý, không cần thiết do theo đuổi những chủ thuyết vong bản, ngoại lai, và tệ hại hơn nữa, đã cam tâm tự nguyện làm con chốt xung kích tiền tiêu phục vụ cho những thế lực sen đầm quốc tế, gây biết bao điêu linh, tang tóc cho đất nước và dân tộc Việt Nam!

Sự cáo chung của chủ nghĩa Cộng Sản tại Âu Châu năm 1991 đã buộc CSVN phải xoay chiều đổi hướng để tiếp tục sinh tồn. Giới lãnh đạo CS Hà Nội đã tách rời hẳn khuôn mẫu đổi mới của các quốc gia CS Đông Âu, và chọn con đường đổi mới rập khuôn theo Trung Hoa để duy trì sự lãnh đạo độc quyền của đảng Cộng Sản trong sinh hoạt chính trị tại Việt Nam, để tiếp tục thụ hưởng những đặc quyền đặc lợi, ăn trên ngồi trốc giành cho giới lãnh đạo chóp bu nắm quyền sinh sát trong chính trị bộ và trung ương đảng. Cải cách cơ chế kinh tế nhưng không cải cách cơ cấu chính trị. Phát triển kinh tế thị trường tự do theo định hướng xã-hội-chủ-nghĩa là phương châm chỉ đạo của người Cộng Sản Việt Nam trong việc thực thi đường lối đổi mới kinh tế!

Khách quan mà nói, trong tiến trình đổi mới kinh tế, người CSVN đã thực hiện được những thành quả rất đáng kể. Sau tháng Tư, 1975, Việt Nam đang từ một nước xuất cảng gạo và nông sản đã trở thành một quốc gia phải nhập cảng gạo và trên bờ mép của một nạn đói lớn hoành hành. Rập khuôn theo mô hình kinh tế trung ương hoạch định của Liên Sô, sau khi thống nhất Việt Nam năm 1976, CSVN đã giải thể toàn bộ các công ty tư doanh tại miền Nam, thiết lập cơ chế hợp tác xã và xí nghiệp quốc doanh do nhà nước quản lý, điều hành như tại miền Bắc. Hậu quả của việc quốc doanh hóa này là sự khủng hoảng và trì trệ của nền kinh tế quốc gia với sản lượng công nghiệp nhất là nông nghiệp tụt giảm trầm trọng, mà lúa gạo, một nông sản xuất cảng chính trước đây của miền Nam, nay phải nhập cảng với số lượng lớn cho nhu cầu tiêu dùng nội địa của người dân! Năm 1986, đảng CSVN phát động kế hoạch đổi mới kinh-tế nhằm cứu nguy nền kinh tế quốc gia đang trên bến bờ vực thẳm của sự sụp đổ. Những cải cách về cơ chế thị trường và tư doanh hóa các xí nghiệp quốc doanh do nhà nước quản lý đã được thưc hiện. Đồng thời nhà nước CSVN cho ban hành một đạo luật về đầu tư, và mở rộng cửa thị trường Việt Nam để thu hút các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài vào. Kết quả chỉ trong vòng một thập niên tính từ 1997 cho đến 2006, Việt Nam đã đạt được mức phát triển kinh tế rất đáng khích lệ, với mức tăng trưởng kinh tế bình quân mỗi năm vào khoảng 7.1%, trên Ấn Độ, 6.3% và dưới Trung Quốc, 9.1% (Asia Pacific Economic and Equity Research--16 February, 2007—J P Morgan). Theo số liệu của Vụ Đông Á và Thái Bình Dương thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (Bureau of East Asian and Pacific Affairs—October, 2009—US Department of State), thì tổng sản lượng quốc gia (GDP) của Việt Nam năm 2008 đã lên đến 84.98 tỷ đô la, với lợi tức đồng niên bình quân trên mỗi đầu người là 1,024 đô la, một con số rất khả quan nếu so với giai đoạn ‘tiền Đổi-Mới’, khi nền kinh tế Việt Nam còn rập theo khuôn mẫu trung ương hoạch định của Liên Sô!

Sau khi Hoa Kỳ tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với CSVN ngày 11 tháng Bảy, 1995, Việt Nam đã gia nhập Hiêp Hội các Nước Đông Nam Á (ASEAN) ngày 28 tháng Bảy cùng năm. Tháng Giêng, 2007, Việt Nam được Quốc Hội Hoa Kỳ chấp thuận cho hưởng qui chế Tối Huệ Quốc (Permanent Normal Trade Relations-PNTR) dành riêng cho những quốc gia đươc hưởng đặc quyền trong trong giao dịch thương mãi với Hoa Kỳ. Đồng thời Việt Nam cũng được nhận làm thành viên của các tổ chức hợp tác kinh tế tại vùng châu Á Thái Bình Dương như APEC (Asia-Pacific Economic Cooperation) năm 1998 và AFTA (Asian Free Trade Area) năm 1995. Năm 2001, Việt Nam đã ký một thỏa ước kinh tế rất quan trọng với chính phủ Hoa Kỳ: Thỏa Ước Mậu Dịch Song Phương Mỹ-Việt (BTA: US-VN Bilateral Trade Agreement) tăng cường việc giao dịch thương mãi và dọn đường cho những đầu tư qui mô của các đại công ty tài chánh và kỹ thuật của Hoa Kỳ vào thị trường Việt Nam. Hoa Kỳ đã trở thành một bạn hàng buôn bán lớn nhất của Việt Nam hiện nay với tổng trị giá mậu dịch thương mãi giữa hai nước lên đến 9 tỷ đô la năm 2006 (J P Morgan). Kế đến là Nhật Bản, Trung Quốc, Liên Hiệp Âu Châu, Nga, Ấn Độ, Úc, Nam Hàn, Đài Loan, và các quốc gia trong khối ASEAN… đều là những khách hàng thương mãi quan trọng của Việt Nam. Với sự giúp đở của chính phủ Hoa Kỳ, Việt Nam đã gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Quốc Tế (World Trade Organization-WTO) tháng Giêng năm 2007 tạo điều kiện thuận lợi cho việc thị trường hóa nền kinh tế đang còn trong giai đoạn chuyễn tiếp của Việt Nam. Với một đội ngũ công nhân trẻ, có kiến thức, nhiệt tình làm việc, và mức thù lao lương bổng tương đối thấp so với Trung Quốc và Ấn Độ, thị trường Việt Nam đã tạo được sức hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư quốc tế. Một dự án xây dựng một cơ xưởng khổng lồ lắp ráp các chip điện tử trị giá hơn một tỷ đô la tại thành phố Sàigòn của đại công ty Intel dự trù đưa vào sản xuất giữa năm 2010 là một khích lệ rất lớn cho ngành công nghiệp điện tử còn non trẻ của Viêt Nam.

Bên cạnh những mặt mạnh của thị trường kinh tế Việt Nam là một chuỗi dài những mặt tiêu cực, hoành hành như một thứ dịch bệnh kinh niên, kềm hãm đà phát triển của nền kinh tế đang vươn lên của Việt Nam. Tệ nạn tham nhũng là một vấn nạn rất lớn cho chính quyền CSVN. Việt Nam hiện đang chiếm lĩnh vị trí thứ 111(tính từ dưới lên trên!) trên tổng số 163 quốc gia trên thế giới về tệ nạn tham nhũng với chỉ số 2.6 dưới rất xa chỉ số ‘trung hòa 5.0’, biên giới giữa những nước không có tham nhũng và những quốc gia có sự tham nhũng trầm trọng (Corruption Perception Index compiled by Transparency International). Chót bảng là Nga (2.5), Indonesia (2.4) và Pakistan (2.2)!

Thể chế độc tài đảng trị của Việt Nam là nguyên nhân chính của tệ nạn tham nhũng tràn lan hiện nay.Tất cả những cơ cấu quyền lực chính trị tối cao như Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp đều trực thuộc đảng CSVN, mà tất cả những chức vụ từ chủ tịch nước, thủ tướng, cho tới các thành viên nội các, quốc hội hay tòa án đều do những đảng viên cao cấp nòng cốt (được chỉ định bởi Bộ Chính Trị và Trung Ương Đảng) nắm giữ, qua một cuộc bầu phiếu kín nội bộ, hay qua một cuộc phổ thông đầu phiếu với lá phiếu của quần chúng như một thủ tục để hợp thức hóa những quyết định đã có sẵn của đảng CS! Do thiếu thực quyền ‘kiểm-tra và cân-bằng quyền lực’ (checks and balances) giữa các ngành Lập Pháp, Tư Pháp, và Hành Pháp với nhau (như trong các chế độ dân chủ pháp trị của phương Tây), nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng quyền hành của giới lãnh đạo cầm quyền, sự nhũng lạm và hối mại quyền thế là một hiện tượng xảy ra nhan nhản trong xã hội Việt Nam! Vụ án tham nhũng lớn, PMU18, liên quan đến những viên chức cao cấp thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải Việt Nam và vụ Năm Cam tại Sàigòn chỉ là vài vụ điển hình mà chính quyền CSVN muốn đưa ra ánh sáng để chứng tỏ quyết tâm bài trừ tệ nạn tham ô nhũng lạm của Việt Nam!

Sự dung dưỡng, bao che lẫn nhau để cùng trục lợi của giai cấp đảng viên CS đã tạo sự bất mản của quần chúng, mấm mồng của những xung đột, bất ổn xã hội khó tránh khỏi do sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn giữa giới đảng viên CS và đại đa số người dân Việt Nam. Những hình ảnh xa hoa trụy lạc, ăn chơi hoang phí của những ‘đại gia’, con ông cháu cha, áo quần sang trọng bảnh bao tại các thành phố lớn tương phản rõ rệt với cảnh những em bé thơ rách rưới, đang lục lọi, bới từng đồng rác để tìm thực phẩm sống tạm qua ngày! Cuộc sống không có ngày mai của những gia đình nheo nhóc, sống bụi đời không nhà cửa ở các vĩa hè của những con đường trong các thành phố lớn; hoặc cảnh người phụ nữ Việt nghèo khổ phải bấm bụng lấy một anh chồng Đài Loan hay Nam Hàn, để có chút tiền của để lại cho cha mẹ già, như một chứng tích cho cái phi nhân bản của một xã hội Cộng Sản mà mãnh lực kim tiền đã thay cho tất cả mọi giá trị đạo đức luân lý của xã hội!

Sự sao nhãng trong lĩnh vực quốc phòng đã khiến quân đội CSVN từ một lực lượng hùng hậu thiện chiến, với những vũ khí trang bị tối tân, trở thành một lực lượng yếu kém lạc hậu, hầu như không còn tinh thần chiến đấu nếu tình huống chiến tranh xảy ra. Bên cạnh một Trung Quốc khổng lồ hùng mạnh đang vươn lên, với dã tâm và tham vọng khống chế vùng tài nguyên chiến lược Đông Nam Á, nhất là vùng biển Đông, Việt Nam vẫn chưa thấy có một sự chuẩn bị rõ rệt nào về an ninh quốc phòng, ngoại trừ hết nhượng bộ này tới nhượng bộ khác, từ đất đai trên bộ cho đến lãnh thổ trên biển !

Biển Đông hay Nam Hải là một khu vực rộng lớn trải dài từ eo biển Đài Loan tới tận eo biển Malacca, Singapore với tiềm năng rất lớn về dầu khí và hải sản; nơi tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ giữa Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam và một số nước trong vùng Đông Nam Á. Biển Đông còn là một thủy lộ vận chuyển hàng hóa huyết mạch nơi mà phần lớn những hàng hóa trao đổi giữa Âu châu, Trung Đông với các nước vùng Đông Á, cùng khoãng trên 80% số lượng dầu thô cung cấp cho Trung Hoa, Nhật Bản, Đài Loan, và Nam Hàn từ vùng vịnh Persian đều đi qua tuyến tiếp vận chiến lược này. Đối với Hoa Kỳ, biển Đông là khu vực có tầm vóc quan trọng lớn, là cửa ngõ giao lưu chính từ vùng Đông Bắc Á qua Ấn Độ Dương vào vùng biển Ả Rập, Trung Đông, và vùng biển Úc châu. Sự có mặt thường trực của Hạm Đội 7, một trong những hạm đội hùng mạnh nhất của Hải Quân Hoa Kỳ tại vùng trọng điểm nầy từ nhiều thập niên nay, đã nói lên tính chất quan trọng chiến lược của khu vực. Tham vọng về chủ quyền của Trung Hoa đối với Nam Hải rất lớn. Dựa vào những ‘bằng-chứng lịch-sử’ của riêng mình, Trung Quốc đã có những đòi hỏi về chủ quyền lãnh thổ trên biển Đông vượt xa mọi quy định của Công Pháp về Biển của Liên Hiệp Quốc năm 1994 (UNCLOS—United Nations Convention on the Law of the Sea) liên quan đến lãnh hải, thềm lục địa và khu vực kinh tế độc quyền (EEZs—Exclusive Economic Zones): Toàn bộ Nam Hải từ vùng biển Nhật Bản tới tận vùng duyên hải của Brunei và Philippines là phần lãnh thổ không thể tách rời và bất khả tranh tụng của thiên triều Trung Quốc!! Việc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974, và một phần quần đảo Trường sa năm 1988, cùng việc bắn chết, bắt giữ những ngư dân người Việt đang đánh cá trong vùng biển Việt Nam là những hành vi xâm phạm trắng trợn chủ quyền của quốc gia Việt Nam mà lực lượng hải quân CSVN đã quá yếu kém, không đủ sức bảo vệ nổi bờ cỏi và sự an toàn cho dân chúng làm ăn sinh sống! Năm 2007, Bắc Kinh đã áp lực tổ hợp dầu khí BP (British Petroleum) ngưng việc phát triển để đưa vào khai thác hai mõ khí đốt tại vùng Côn Đảo trong địa phận lãnh hải Việt Nam, dù phía CSVN đã phản đối quyết liệt với chính quyền Trung Quốc về việc xâm phạm chủ quyền này. Đồng thời tháng Mười Hai, 2007, quốc hội Trung Quốc đã thông qua một đạo luật thiết lập một đặc khu hành chánh tại Hải Nam bao gồm luôn cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, cùng tiến hành những cuộc thao dượt quân sự và đưa đón du khách tham quan tại Hoàng Sa, quần đảo mà Trung Hoa đã chiếm đóng sau một trận hải chiến đẩm máu với các chiến hạm của hải quân miền Nam Việt Nam năm 1974!

Chiến lược bành trướng của Trung Quốc tại khu vực Á châu được thực hiện qua chiến thuật ‘tầm ăn lá dâu’: từng bước thôn tính những phần lãnh thổ mà Trung Hoa cho là đất đai từ ngàn xưa của ông cha họ dựa vào những ‘tài liệu lịch sử’ để lại của phía TQ! Theo chiến lược “Vươn-lên-trong-hòa-bình” (Peaceful Rise) của giới lãnh đạo Trung Hoa, thì việc khống chế toàn bộ vùng biển Đông và những vùng có giá trị chiến lược tại Đông Nam Á, Đông Bắc Á và Nam Á là giai đoạn thứ hai trong ba giai đoạn cần phải thực hiện để vươn lên vị thế của một cường quốc khu vực, và kế đến là vị thế siêu cường của thế giới: Giai đoạn ‘ Phát-Triển’ (Nurture), Trung Quốc giữ thái độ hòa hoãn, nặng về ngoại giao với các quốc gia trên thế giới nhất là các nước láng giềng xung quanh, kể cả các quốc gia thù địch; giai đoạn thứ hai là giai đoạn ‘ Kiến-Lập’ (Establishment), trong giai đoạn này Trung Quốc sẽ xử dụng mọi biện pháp kể cả vũ lực để “ thu hồi những phần lãnh thổ đã bị ngoại bang chiếm đóng”; và giai đoạn chót là ‘Cai-Quản’ (Governance), đặt công luận thế giới vào chuyện đã rồi, chấp nhận những trật tự về chính trị-kinh tế mà TQ đã sắp sẵn (Journal of the Guandong Industrial University, March 2005)!

Do nằm ở một vị trí chiến lược, Việt Nam đã trở thành một đấu trường của các thế lực cường quốc ngoại bang tranh giành ảnh hưởng! Xung đột giữa Pháp-Hoa, Nhật-Pháp, và gần đây giữa hai khối Tư Bản- Cộng Sản trong thời kỳ chiến tranh lạnh, và Trung-Sô giai đoạn sau 1975. Sự phát triển về kinh tế của TQ đã đưa Trung Hoa lên thành một cường quốc khu vực làm lo ngại các nước Đông Nam Á cũng như các cường quốc khu vực khác tại Á châu như Nhật Bản, Ấn Độ, Úc và thậm chí cả Nga và Hoa Kỳ do sự canh tranh để độc chiếm quyền ảnh hưởng tại khu vực có nhiều tiềm năng về kinh tế lẫn giá trị quân sự chiến lược của vùng châu Á-Thái Bình Dương. Với một nền kinh tế nặng về xuất khẩu đang phát triển , TQ rất cần những nguồn nguyên-nhiên liệu, nhất là dầu thô để phục vụ cho ngành công nghiệp sản xuất chế biến hàng hóa tiêu dùng. Trong những thập niên sắp tới do nhu cầu tiêu thụ ngày càng gia tăng và nguồn cung cấp ngày càng hạn chế suy giảm, giá dầu thô sẽ tăng cao, cộng thêm vào đó là sự tăng giá cước phí hàng hải sẽ ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm của hàng hóa xuất khẩu của Trung Hoa. Biển Đông với tiềm năng rất lớn về dầu khí (mà việc vận chuyển dầu thô từ khu vực khai thác về lục địa Trung Hoa gần hơn rất nhiều nếu so với dầu thô từ vùng Trung Đông), chắc chắn sẽ là khu vực tranh chấp giữa các nước Đông Á và Đông Nam Á, mà xung đột về chủ quyền trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam là điều khó lòng tránh khỏi! Nếu so sánh tương quan lực lượng về quân sự giữa hai bên thì Việt Nam sẽ khó là đối thủ của Trung Hoa, nhất là sự quá yếu kém của lực lượng hải quân CSVN. Một khi Trung Quốc đủ mạnh để bành trướng về phía nam nhằm thực hiện giấc mộng bá quyền của mình, thì Việt Nam sẽ là nạn nhân đầu tiên của giai đoạn ‘ thu hồi những phần lãnh thổ đã bị tước đoạt’ trong đại chiến-lược “ Vươn-lên-trong-hòa-bình” của người Trung Hoa! Giới lãnh đạo chóp bu của đảng Cộng Sản Việt Nam giờ hẳn đã hiểu thấu tim đen ý đồ chiến lược của những người ‘đồng chí anh em’ trong bộ chính trị đảng Cộng Sản Trung Hoa?!

Trước một tình hình không mấy gì thuận lợi cho Việt Nam, nhất là trong giai đọan khủng hoảng quyền lực sắp tới khi Hoa Kỳ mất dần ảnh hưởng tại Á châu và Trung Quốc từng bước trám vào khoảng trống quyền lực đó; xung đột chắc chắn sẽ bùng phát rất nguy hiểm giữa một bên là Trung Hoa, một ngôi sao quyền lực đang lên với tham vọng bành trướng lãnh thổ và vùng ảnh hưởng tại khu vực châu Á, và một bên là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, và Đài Loan. Việt Nam chắc chắn lại sẽ là nút chận tiền tiêu hứng chịu những cơn thịnh nộ giết người của con rồng đỏ Trung Hoa! Đó là điều mà Việt nam không thể nào tránh khỏi, nếu dựa vào những biến cố đã xảy ra trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam.

Đã đến lúc giới cầm quyền Cộng Sản Việt Nam phải đặt sự an nguy của tiền đồ tổ quốc lên trên quyền lợi của người Cộng Sản. Thực hiện việc đổi mới cơ cấu chính trị, dân chủ hóa đất nước để tạo sự đoàn kết quốc gia, tạo khí thế hừng hực dậy lửa của hội nghị Diên Hồng, nơi toàn dân nước Việt họp bàn kế sách chống giặc Nguyên Mông xâm lược đời Trần. Chú trọng vào việc đào tạo một đội ngũ trí-thức rường cột có khả năng và tinh thần yêu nước thực sự (không phải yêu đảng và xã hội chũ nghĩa!), với ý thức phục vụ quốc gia dân tộc, và hoàn toàn miễn nhiễm, không bị đầu độc bởi những tư tưởng cộng sản ngoại lai vong bản. Phát triển nền kinh tế quốc gia, xây dựng một nền quốc phòng hùng mạnh để bảo vệ bờ cõi; liên kết với các nước ASEAN, Nhật Bản, Ấn Độ, Đài Loan, Úc, Nga và nhất là với Hoa Kỳ, để tạo thế răn đe ỷ dốc, trong chiến lược kềm tỏa, chế ngự con rồng đỏ Trung Hoa mà vuốt nanh nay đã bắt đầu ló dạng! Một vài thập niên tới chỉ là một khoảng thời gian quá ngắn ngủi nếu so với bao thập kỷ dài trong dòng lịch sử thịnh suy của dân tộc Việt. Công hay tội của người Cộng Sản Việt Nam, mà lịch sử sẽ phán xét về sau, được tính kể từ lúc nầy đây!

Bang Pham
California, Tháng Mười Một Năm Hai Ngàn Lẻ Chín

 

 


Email : ctctkhoa4@yahoo.com