Việt Nam và con đường trước mặt.

 

Việc hạ thủy chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên, Thi Lang, cùng với việc tập trận đại qui mô của quân đội Trung Quốc tại tỉnh Quảng Tây giáp biên giới phía bắc của Việt Nam đã như một lời cảnh báo nhắc nhở rằng Trung Hoa mãi mãi là một hiểm hoạ cận kề và rất thực cho sự tồn vong của đất nước và dân tộc Việt Nam!

Sau biến cố 9/11, nước Mỹ với những vướng bận của hai cuộc chiến chống khủng bố tiêu hao dai dẳng tại Iraq và Afghanistan đã sao nhãng hẳn địa bàn chiến lược trọng yếu truyền thống của vùng châu Á Thái Bình Dương. Thời cơ đã đến với người Trung Hoa khi họ có cả một khoảng thời gian dài gần mười năm được rảnh tay (không phải lo âu về mối đe dọa bị bao vây cô lập bởi người Mỹ) để dồn mọi nỗ lực phát triển nền kinh tế-quốc phòng, cũng cố tiềm năng và sức mạnh toàn lực quốc gia cho mưu đồ đại nghiệp ‘bá quyền đại Hán’ mà Trung Nam Hải đã ấp ủ từ bao thập kỷ nay!. Cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu năm 2008 tiếp theo đó đã đẩy Hoa Kỳ (và thế giới) vào cơn suy thoái trầm trọng nhất (kể từ sau cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929) với những gánh nặng oằn vai phải lo toan, một lần nữa lại giúp Trung Quốc có thêm một khoảnh khắc thuận lợi để xuất đầu lộ diện, ung dung bước lên võ đài chính trị quốc tế trong tư thế một cường quốc khu vực đang lên, một ứng viên nặng ký cho cuộc tranh đua giành quyền bá chủ khu vực và toàn cầu với siêu cường Hoa Kỳ!

Chính sách đối ngoại mềm yếu, có phần lý tưởng, ngây thơ và thiếu kinh nghiệm của tân chính quyền Obama trong giai đoạn đầu (G2: Hoa Kỳ & Trung Quốc cùng bắt tay lãnh đạo thế giới!) đã khuyến khích Bắc Kinh tỏ thái độ cứng rắn và hung hãn hơn trong việc đòi hỏi phần quyền lợi của mình trong phạm vi khu vực cũng như trên địa bàn thế giới. Từ thái độ trịch thượng bất hợp tác của Bắc Kinh tại hội nghị quốc tế về môi trường tại Copenhagen năm 2010, cho đến sự đụng chạm trên biển với Nhật Bản dẫn đến những căng thẳng ngoại giao giữa hai quốc gia , sự bao che dung dưỡng cho Bắc Hàn sau vụ đánh chìm một chiến hạm Nam Hàn tại vùng biển đang tranh chấp giữa hai nước, thái độ hung hăng, áp chế của Trung Hoa tại các diễn đàn an ninh khu vực của hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á mở rộng, cùng những tuyên bố về chủ quyền tuyệt đối không thể tranh tụng trên toàn biển Đông và các quần đảo nằm trong phạm vi khu vực nầy … đã gây quan ngại và phẫn nộ trong công luận thế giới trước một Trung Hoa ngày càng tỏ ra tham vọng, ngang ngược, hành xử bất chấp mọi lý lẽ và lề luật quốc tế hiện hành!

Biển Đông hay Nam Hải, một địa bàn chiến lược trọng yếu (với một trữ lượng dầu khí rất dồi dào và các tuyến đường giao thông thương mãi quan trọng nối liền châu Á Thái Bình Dương với vùng dầu mỏ Trung Đông), đã như một miếng mồi ngon trước mắt, khêu gợi cơn đói khát nguyên-nhiên liêu triền miên, không hề thỏa mãn của một Trung Hoa Cộng Sản đang sục sôi trong cuồng vọng bành trướng bá quyền nhằm thống trị thế giới! Nam tiến mà Nam Hải là trọng tâm, là con đường bành trướng khả dĩ thực hiện được trong tình hình hiện nay. Đối chọi với một ASEAN nhiều chia rẽ nội bộ và tương đối yếu kém về mọi mặt so với Trung Quốc, dù sao đi nữa cũng dễ dàng hơn là đương đầu với Nhật Bản hay Nam Hàn, những quốc gia có một nền kinh tế vững mạnh, một lực lượng quân sự khá hùng hậu và nhất là đang có những hiệp ước phòng thủ an ninh hổ tương với Hoa Kỳ.

Do nằm ở một vị trí địa dư chiến lược, Việt Nam từ ngàn xưa vẫn là một chướng ngại cần phải thanh toán của người Trung Hoa để mở đường về vùng đất hứa trù phú, mầu mỡ ở phương Nam. Trong suốt bốn ngàn năm dựng nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua biết bao gian khổ, đã đổ biết bao xương máu, mồ hôi và nước mắt, đánh đuổi giặc ngoại xâm để bảo vệ, giữ gìn mảnh giang sơn gấm vóc mà các bậc tiền nhân đã dầy công tạo dựng. Hơn một ngàn năm nô thuộc giăc Tàu phương bắc, hơn một trăm năm nô lệ cho giặc Pháp phương tây chính là cái giá mà dân tộc Việt đã phải trả do định vị tại địa bàn chiến lược hiểm yếu nầy! Từ Đại Hán, Mông Cổ, Mãn Thanh cho đến Pháp, Nhật, Mỹ, Nga, tất cả đều muốn thôn tính (hoăc liên minh với) Việt Nam, để mở đường về phía Nam hay làm một lá chắn ngăn chặn mọi áp lực từ phương Bắc tràn xuống trong những ván cờ tương tranh quyền lực trên toàn cầu cũng như ngay chính tại khu vực.

Cuộc nội chiến (cuộc chiến tranh ủy nhiệm về ý thức hệ giữa hai khối Tự Do-Cộng Sản-Ideological proxy war) đẫm máu kéo dài trên hai mươi năm giữa hai miền Nam-Bắc Việt Nam đã gây biết bao tang thương đổ nát cho đất nước Việt Nam, cũng như đã để lại những vết thương tinh thần hằn sâu trong tâm thức, với những nghi kỵ, chia rẽ, thù hận khôn nguôi trong lòng người dân Việt tại cả hai miền Nam-Bắc! Đây chính là trở lực lớn lao nhất ảnh hưởng đến con đường tiến lên thịnh vượng hùng cường của đất nước và cũng chính là mầm mống chia rẽ, một đại họa cho sự tồn vong của dân tộc Việt Nam trước hiểm họa ngoại xâm đến từ phương Bắc!

Sau tháng Tư, 1975, người Cộng Sản VN đã phạm một lỗi lầm khó tha thứ khi thẳng tay trù dập, tàn hại những người anh em chiến bại ở miền Nam, thay vì thực hiện lời hứa hòa hợp hòa giải dân tộc để cùng nhau dựng xây lại một đất nước đã quá kiệt quệ, điêu tàn sau một cuộc chiến tương tàn cốt nhục dài đăng đẵng. Biết bao nhân tài của đất nước đã bị ngược đãi, hành hạ, chết dần mòn trong các trai tâp trung. Những tiềm năng, tiềm lực của quốc gia đã bị hủy hoại, phí phạm một cách vô lý qua những chính sách, đường lối kinh tế-quốc phòng cứng nhắc và lạc hậu của một chủ thuyết chính trị đang bước vào giai đoạn cuối cùng: thời kỳ băng hoại và tan rã của chủ nghĩa Cộng Sản quốc tế trên toàn thế giới! Kết quả của một mô hình kinh tế trung ương hoạch định rập khuôn theo Liên Sô là sự trì trệ, bế tắc của nền kinh tế quốc gia trên mọi lãnh vực: từ sản xuất nông nghiệp gần như hoàn toàn ngưng trệ (với sự thiếu thốn lương thực, thực phẩm trầm trọng sau 1975!) cho đến nền công nghiệp nhẹ đang phát triển với nhiều hứa hẹn tại miền Nam cũng sụp đổ qua chính sách quốc doanh hóa ngành sản xuất kinh doanh do tư nhân đảm trách trước đây tại phía Nam!

Sự cô lập về ngoại giao trên chính trường quốc tế sau khi CS Việt Nam xâm lăng Kampuchia năm 1978 đã tạo cơ hội cho Trung Quốc tấn công hủy hoại các tỉnh vùng biên giới phía bắc; nhất là việc bỏ lỡ cơ may bình thường hóa bang giao với chính quyền Carter sau 1975, cùng với sự cấm vận kinh tế của Hoa Kỳ tiếp theo đó, đã làm trầm trọng thêm tình trạng khủng hoảng kinh tế-chính trị tại Việt Nam. Năm 1989, chính quyền CSVN đã áp dụng chính sách đổi mới kinh tế để nhằm cứu nguy nền kinh tế quốc gia đang trên bến bờ sụp đổ. Sự cáo chung kế tiếp của chủ nghĩa Cộng Sản tại Đông Âu và Liên Sô năm 1991, đã buộc CSVN phải xoay chiều đổi hướng, ngã hẳn về phía Cộng Sản Trung Hoa để tìm sự sanh tồn trong một tình thế hoàn toàn bất lợi cho những chế độ cộng sản còn sót lại trên thế giới. Chính sự rập khuôn mù quáng theo mô hình kinh tế-chính trị của Trung Hoa lúc đó đã gây nhiều hệ lụy cho Việt Nam ngày nay!

Chính sách kinh tế ‘Tư bản gia đình’ (Crony capitalism) đặt trọng tâm vào các công ty quốc doanh (SOEs) và các công ty ‘tư doanh gia đình’ do các đảng viên nòng cốt, thân nhân hoặc những bằng hữu có liên hệ mật thiết với chế độ điều khiển (cũng giống như tình trạng tại Trung Quốc) là một gánh nặng cho sự cất cánh an toàn của nền kinh tế quốc gia! Sự yếu kém trong lãnh vực quản lý chuyên môn và tình trạng tham nhũng là những yếu tố chính cản trở hiệu năng của những đại công ty nầy. Vinashin, tập đoàn kỹ nghệ đóng tàu biển, một tổng công ty quốc doanh của Viêt Nam do nhà nước bảo trợ đã không đủ khả năng hoàn trả nợ sau một thời gian hoạt động, do kinh doanh thua lỗ với số nợ khổng lồ hơn 4.4 tỷ đô la! Một trường hợp điển hình khác, Vinacomin, tập đoàn kỹ nghệ than đá và hầm mỏ cũng trực thuộc quyền quản lý của chính quyền Việt Nam, đã bị Moody’s, một cơ quan lượng giá điểm tín dụng quốc tế, đánh sụt hạng tín dụng từ B3 xuống B2 do kinh doanh lỗ lã, thất thu và mức nợ tín dụng cao (Bloomberg)! Mặc dầu vậy, theo thống kê của chính quyền Việt Nam, các công ty quốc doanh vẫn là nỗ lưc chính của nền kinh tế quốc gia đã đóng góp một tỷ lệ khoảng 40% tổng sản lượng quốc gia (GDP) trong năm 2010!

Do thiếu một căn bản pháp lý qui định về việc phân quyền và kiểm soát-cân bằng quyền lực giữa các ngành Lập Pháp- Hành Pháp và Tư Pháp của một chính phủ dân chủ thực sự (được quần chúng bầu lên như trong các chế độ dân chủ pháp trị phương Tây), chính quyền CSVN không thể hiện được vai trò lãnh đạo chính trị khách quan và trong sạch trong việc điều hành đất nước. Sự bè phái, phe cánh và tham ô nhũng lạm phát sinh đã cản trở mọi nỗ lực cần thiết nhằm cải tổ kiện toàn guồng máy công quyền và quản lý kinh tế-tài chánh. Quan điểm độc quyền lãnh đạo chính trị đã lỗi thời lạc hậu của người Cộng Sản là trở lực chính ngăn cản việc dân chủ hóa đất nước, một nhân tố tối cần yếu cho một tương lai thịnh vượng, hùng cường của đất nước và dân tộc Việt Nam . Cộng thêm vào đó là những sự đàn áp thô bạo các thành phần khác chính kiến trong nước cũng như việc vi phạm trầm trọng nhân quyền và các quyền tư do căn bản được quy định, bảo vệ bởi hiến pháp trong một xã hôi dân chủ (tư do ngôn luận, hội họp, tôn giáo, đi lại…) đã gây những mầm mống bất hòa, bạo loạn tiềm ẩn trong xã hội.

Hố sâu ngăn cách giàu nghèo quá lớn giữa các tầng lớp trong xã hội do sự tham ô của giới đảng viên Cộng Sản cao cấp, nhất là tệ nạn bè phái, phe nhóm chẳng những gây chia rẽ, bất mãn trong quần chúng mà còn cản trở sự thăng tiến của những nhân tài, cần yếu cho nỗ lực chấn hưng phát triển đất nước sau bao năm tụt hậu do chiến tranh tàn phá và đường lối cai trị sai lầm lạc hậu! Chính sách phát triển kinh tế quốc gia vẫn chưa định hướng rõ rệt, vẫn rập khuôn theo mô hình phát triển của Trung Quốc chú trọng thuần vào việc đầu tư cho khu vực sản xuất, lắp ráp các sản phẩm xuất khẩu rẻ tiền với chi phí nhân công rất thấp, đã tạo sự phẫn uất trong giới công nhân lao động, cũng như kìm hãm đà phát triển của một đội ngũ lao động trẻ trung, năng động, có kiến thức và nhiệt tình làm việc!Vấn đề công nợ quốc gia và tình trang thâm thủng mậu dịch là những mối đe dọa nghiêm trọng cho nền kinh tế đang phát triển của Việt Nam. Với 32.5 tỷ đô la nợ nước ngoài (chiếm khoảng 42.2% tổng sản lượng quốc gia, GDP) trong năm 2010 và khoảng 13 tỷ đô thâm thủng mậu dich với Trung Quốc (2010), công thêm vào đó là tỷ lệ lạm phát tăng cao (23%), nếu chính quyền Việt Nam không có những biện pháp đối phó thích nghi, nền kinh tế đang trên đà vươn lên của Việt Nam sẽ bị khựng lại với rất nhiều hệ lụy phát sinh!

Quan hệ mậu dịch với Trung Quốc là một vấn đề đang gây nhiều quan ngại. Với mức độ thâm thủng trong cán cân thương mại giữa hai bên lên đến hàng chục tỷ đô la mỗi năm (so với một nền kinh tế mức độ nhỏ như của Việt Nam) là một điều đáng bận tâm lo ngại, cần có sự chấn chỉnh, sửa đổi. Thủ thuật hạ giá thành sản phẩm của giới kinh doanh Trung Hoa để đè bẹp, giết chết ngành công nghiệp bản xứ, nhằm khống chế nền kinh tế-chính trị của các quốc gia đối tác là một sách lược kinh tế với dụng tâm ràng buộc các quốc gia nầy vào quỹ đạo kinh tế-chính trị của người Trung Hoa. Việc xử dụng những doanh nhân người Hoa, hoặc Việt gốc Hoa, với các hình thức mua chuộc, hối lộ tinh vi các viên chức có thẫm quyền thuộc trung ương hay địa phương, nhằm nắm giữ những hơp đồng kinh tế béo bở để dễ bề chi phối, lũng đoạn thị trường bản xứ là những vấn nạn mà Viêt Nam và các quốc gia Đông Nam Á đều gặp phải khi giao dịch buôn bán với Trung Hoa. Riêng Việt Nam với một nền kinh tế đầy năng động, một đội ngũ công nhân siêng năng, cần mẫn, giá biểu lao động lại thấp so với các nước đang phát triển khác, cộng thêm vào đó là một thị trường nội địa tương đối khá lớn, nên tự tìm cho mình một hướng đi riêng, khai thác những điểm mạnh cá biệt trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp thay vì rập khuôn theo mô hình kinh tế của Trung Hoa (chỉ dựa thuần vào một lực lượng lao động giá biểu rẽ để sản xuất những mặt hàng gia công cho các công ty đa quốc gia nước ngoài). Thị trường Hoa Kỳ và Âu châu là những thị trường rất lớn, nếu biết khai thác tận dụng đúng mức, có thể giúp nền kinh tế Việt Nam cất cánh, nhanh chóng bước vào đội ngũ những cường quốc kinh tế trong khu vực.

Lãnh vực an ninh quốc phòng là một lãnh vực quan yếu cho sự tồn vong của đất nước và dân tộc Việt Nam. Đứng trước hiểm họa xâm lược từ phương bắc, Việt Nam rất cần một nền quốc phòng toàn dân, với mỗi người dân là một chiến sĩ bảo vệ cho chính địa phương, nơi mình đang sanh sống. Sự đoàn kết dân tộc là điều kiện tối hậu để chiến thắng những kẽ thù hung hãn. Lịch sử dựng nước hàng ngàn năm của dân tộc Việt đã chứng minh cho chân lý đó! Từ Lý Thường Kiệt vận dụng lòng yêu nước của dân tộc qua bản tuyên ngôn độc lập “Nam Quốc Sơn Hà”, cho đến hội nghị Diên Hồng với Thái Sư Trần Thủ Độ đời Trần đã vận động tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn dân để đánh thắng giặc Nguyên Mông, hay một Nguyễn Trãi phò Lê Lợi lấy ‘ý dân làm ý trời’ qua Bình Ngô Sách và Bình Ngô Đại Cáo, đánh đuổi giặc Minh xâm lược ra khỏi bờ cõi, mang lại độc lập hạnh phúc cho toàn dân Việt. Tất cả đều nhờ vận dụng được lòng yêu nước đoàn kết của toàn dân. Một chế độ dân chủ pháp quyền, với một nhà nước chính danh hợp pháp do chính nhân dân bầu lên qua một cuộc phổ thông đầu phiếu tự do, chính là nguyện vọng tha thiết của toàn dân nước Việt trong tình hình như lửa bỏng dầu sôi hiện nay!

Phát triển nền kinh tế quốc gia, xây dựng một nền quốc phòng hùng mạnh để bảo vệ tổ quốc là hai lãnh vực phải đặt trọng tâm ưu tiên hàng đầu. Canh tân hóa quân đội nhằm nâng cao tiềm năng chiến đấu của các lực lượng Hải-Lục-Không Quân để sẵn sàng trong mọi tình huống. Phân tán các khí tài quân sự tối tân để tránh bị thiệt hại. Cũng cố công sự phòng thủ kiên cố tại các hải cảng, phi trường trọng yếu để đề phòng chiến thuật đánh phủ đầu (pre-emptive strike) bằng hỏa tiển (với sức công phá và độ chính xác cao) và không quân của Trung Quốc nhằm hủy diệt tiềm lực tác chiến tương đối hạn hẹp của các lực lượng không quân và hải quân VN trong những giờ phút đầu tiên của cuộc chiến.

Địa hình biển Đông hoàn toàn không thích hợp cho việc bảo vệ các đảo nhỏ nằm phân tán rải rác và khu vực chung quanh (mà Trung Quốc đã chiếm được tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam) bằng hải quân, dù Trung Hoa có một lực lượng hải quân tương đối hùng mạnh hơn nhiều so với hải quân của các quốc gia Đông Nam Á. Với các hải đảo và vùng biển tranh chấp nằm trong tầm bán kính hoạt động của các chiến đấu cơ cất cánh từ các căn cứ quân sự trên đất liền, hải quân Trung Hoa sẽ gặp vô cùng khó khăn bất lợi khi hoạt động trong khu vực nầy, nhất là sự nan giải trong vấn đề tiếp vận cho các lực lượng chiến đấu khi Trung Hoa tiến sâu xuống vùng biển phía Nam. Việt Nam nên tăng cường khả năng chiến đấu của lực lượng không quân của mình, nhất là tăng cường các loai hỏa tiển địa-không và địa-hải chống hạm tối tân để đối phó với mối đe dọa ngày càng gia tăng do tốc độ phát triển hiện đại hóa của không-hải quân Trung Hoa, cũng như thái độ hung hăng hiếu chiến của tập đoàn lãnh đạo Bắc Kinh trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng xung quanh. Việc tăng cường khả năng tuần tra biển cùng lưc lượng tiềm thủy đỉnh để bảo vệ một vùng duyên hải dài trên ba ngàn cây số của Việt Nam, đồng thời đe dọa khả năng di chuyển tự do của các chiến hạm và thương thuyền Trung Quốc hoạt động trên vùng biển kéo dài từ Hải Nam tới tận khu vực eo biển Malacca, là điều cần khẩn thiết thực hiện.

Với nội tình bất ổn về kinh tế-chính trị hiện nay của Trung Hoa, Việt Nam nên đề phòng việc tìm cớ gây chiến tranh của Bắc Kinh để giải tỏa áp lực nội bộ, đồng thời phục vụ cho âm mưu thôn tính Việt Nam, trung hòa một chướng ngại truyền thống đã ngăn cản mưu đồ đại sự bành trướng bá quyền ấp ủ từ bấy lâu nay của tập đoàn Trung Nam Hải. Vùng Tây Nguyên, vùng biên giới Lào-Việt cũng như vùng duyên hải Thanh-Nghệ-Tĩnh-Bình là những vùng trọng điểm chiến lược chắc chắn đã nằm trong kế hoạch hành quân đánh chiếm (Việt Nam) của quân ủy trung ương Cộng Sản Trung Hoa. Một cuộc chiến toàn diện giữa Trung Quốc và Việt Nam (hai nước Cộng Sản anh em!) sẽ gây những phản ứng quốc tế, nhưng có lẽ sẽ không mạnh mẽ dữ dội như phản ứng của công luận Hoa Kỳ hay cộng đồng thế giới khi Trung Hoa xâm lăng một quốc gia dân chủ tự do như Thái Lan, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai…Đây chính là lý do mà giới lãnh đạo Trung Hoa sẽ cảm thấy an tâm mạnh dạn hơn khi quyết định dùng vũ lực để giải quyết tranh chấp với Việt Nam!

Trước một tình hình không mấy gì thuận lợi cho đất nước và dân tộc, đã đến lúc người Cộng Sản Việt Nam phải có một sự lựa chọn dứt khoát giữa hai con đường: Dân Chủ-Độc Lập-Tự Do với cường thịnh, phồn vinh và vẹn toàn bờ cõi hay Độc Tài-Đảng Trị-Nô Lệ-Vong Quốc mà lịch sử và tiếng đời mãi mãi nguyền rủa, khinh bỉ như một Trần Ích Tắc hay Lê Chiêu Thống, những phường mãi quốc cầu vinh ngàn đời ô danh xú tiếng! Liên minh và gia nhập cộng đồng các nước dân chủ tư do là con đường sống còn của tổ quốc và dân tộc Viêt Nam trước sự trổi dậy hung hăng của một nước Trung Hoa độc tài Cộng Sản mà cuồng vọng bành trướng bá quyền đã gây bao nỗi âu lo, quan ngại cho những nước láng giềng nhược tiểu xung quanh! Đúng hay sai, công hay tội trước chứng nhân lịch sử, tất cả đều tùy thuộc vào sự lựa chọn con đường để đi của người Cộng Sản Việt Nam!

Bang Pham
California, Tháng Tám Năm Hai Ngàn Mười Một


 

 

 

 

 


Email : ctctkhoa4@yahoo.com