Một cuộc hành trình.

Dương đức Tân

 

Hai mươi ba năm trên xứ người, cứ ngỡ như ngày hôm qua . Nhưng khi nhìn lại, những bước chân đi qua là cả một cuộc đổi đời, một cuộc hành trình đi vào bóng đêm để tìm lại ánh sáng, một cuộc hành trình của chông gai và nước mắt, của buồn vui, của xót xa và ngọt bùi lẫn lộn .

Mỗi cuộc đời hình như đã có một con đường vạch sẳn. Năm 1972, trong giai đoạn cực kỳ khổ nạn của đất nước, tôi gia nhập khóa 4 Đại học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt. Hơn hai trăm người bạn đồng môn, gói ghém kỷ niệm cùng nhau trong hai năm rưỡi dưới trời Đà Lạt . Những lý tưởng hào hùng, rừng rực lời Nguyễn Trãi. Những mơ ước tuổi trẻ mở đầu cho bước đầu binh nghiệp đã vụn vỡ tan tành trong cơn sốt 75. Hơn hai trăm tuổi trẻ đã tan tác, lưu đày trong các trại tù trên khắp ngõ cùng của đất nước . Hai năm rưỡi mài gươm, đổi bốn năm rưỡi tù đày nghiệt ngã.

Từ địa ngục này đi qua địa ngục khác, trở về với cuộc sống bên ngoài như bước vào cõi chân không , bước chân hụt hẫng, không trọng lượng . Khóa 4 đạp xích lô, đạp ba gác; khóa 4 tải hàng lậu; khóa 4 nhảy tàu chợ; khoá 4 bán nước mía; khóa 4 làm gã chèo đò thất chí trên bến sông xưa; khóa 4 gặp nhau ngoài chợ đời, nụ cười không trọn vẹn. Bạn bè cùng rủ nhau chạy trốn quê hương của mình. Vượt biển với Ái, Chảnh, Điệp không thành công. Lần thứ 11 tôi được tàu Anh vớt sau 2 ngày lênh đênh trên biển.

Chiếc phi cơ bay một vòng trên không phận Luân Đôn khi trời còn tối đen như mực. Đèn phi đạo phản chiếu màu tuyết trắng lấp lánh như những ngọn dèn pha lê . Tôi muốn vung tay lên thét lớn “ Cám ơn Tự Do “ nhưng phải chùn lại trước những cơn gió lạnh vô cùng của Bắc Hải cắt xé không thương tiếc vào thân hình của gã tị nạn Việt Nam.Tháng giêng 1983, cái mốc đầu tiên của cuộc hành trình trên đất khách.
Khi còn ở Hương Cảng, thuộc địa cuối cùng của nước Anh, tràn đầy ánh dèn nhộn nhịp, thêm vào đó kiến thức ở Đà Lạt đã cho tôi một sự tưởng tượng về một xứ sở của những lâu đài tráng lệ, huy hoàng bên giòng sông Thames trữ tình, thơ mộng. Tôi đã rộn ràng, hồi hộp chờ đợi giây phút được đặt chân lên xứ sở sương mù.Và hôm nay, khi tôi bước chân trên mảnh đất đã một thời nuốt chửng ba phần tư thế giới thì có lẽ sự thất vọng của tôi cũng tương đương bằng sự vĩ đại của Đế quốc Anh hàng trăm năm trước.

Dọc đường xe chạy, nhà cửa thấp lè tè, cũ kỹ. Loại nhà terrace dính liền nhau, trước sau như một. Màu gạch đỏ sẫm, buồn thảm. Đồng cỏ hoang vu, bầy cừu co ro gặm cỏ dưới bầu trời mùa đông ảm đạm.Trại chuyển tiếp nằm trong một thị trấn nhỏ của xứ Wales, khoảng 600 dặm nằm về hướng tây nước Anh. Thị trấn vào mùa đông như một vùng đất chết nhìn ra Đại Tây Dương. Nhà cửa xây bằng đá xám buồn thiu như nghĩa trang về chiều . Chúng tôi đến trại vào chiều 29 tết. Một cái Tết để đời . Nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ anh em, bè bạn. Không tiếng pháo giao thừa, không hương vị đầu năm. Bên ngoài, sóng biển rì rầm như tiếng thở dài của nhóm người tha hương.

Sáu tháng sau, tôi lập gia đình với cô bạn đi cùng chuyến .Đám cưới được tổ chức trong tận cùng của sự đơn giản. Áo cưới được may bằng bàn tay của cô dâu và các chị em bạn. Chú rễ thì chỉ đủ tiền mua được đôi giày cũ, cái áo chợ trời và cặp nhẫn cưới. Còn những thứ khác phải đi mượn bạn bè. Sau đám cưới, trong túi còn được chín Anh kim, một cuộc tình của “Một túp lều tranh hai quả tim vàng “ đúng nghĩa .

Hai tháng sau, gia đình tôi được chuyển đi định cư, một chuyến đi liều mạng thì đúng hơn bởi vì vợ chồng tôi không có bạn bè, thân nhân ở nước Anh và kiến thức về đời sống và guồng máy xã hội thì cả hai đều mù tịt. Nơi tôi ở được mệnh danh là “ The Tail of England “ bởi vì thành phố nằm tận cùng trên vùng đất bồi ra biển. Mùa đông đã lạnh, mùa hè lại càng lạnh hơn. Bao nhiêu tinh hoa của băng gíá từ Tây Bá Lợi Á, Bắc Cực, Bắc Hải,vùng đất này hứng chịu trọn vẹn .Nhớ hoài những ngày mùa đông, vợ chồng mặc ba bốn lớp áo quần, co ro trước cái lò sưởi điện duy nhất trong phòng khách. Ăn, uống, học hành, ngủ, tất cả mọi sinh hoạt đểu nằm trong căn phòng này để tiết kiệm điện. Muốn ăn đồ Á Châu, phải lấy xe đò đi gần cả trăm dặm nên bà xã tôi phải dùng thủ thuật biến chế .Tiền trợ cấp thì có hạn mà gánh nặng gia đình thì ngút ngàn, chúng tôi phải thắt lưng buộc bụng tối đa. Được vài tháng, tôi tìm được chân rửa chén trong tiệm ăn Tàu. Làm tối thứ bảy từ 5 giờ chiều đến 2 giờ sáng, cầm trong tay tám Anh kim mừng muốn chảy nước mắt.

Ngày đầu tiên đi học mới dở khóc, dở cười. Mặc dù đã dày công tu luyện ở trại tị nạn và cẩn thận vác theo cuốn tự điển Anh Việt to tướng, thầy vẫn nói thầy nghe, trò nói trò nghe. Bao nhiêu năm học Anh văn ở trường Mẹ với cô Xuân Lan, cô Phương Thu và các cô thầy giáo Mỹ đều cuốn theo chiều gió. Ở quê nhà, học tiếng Anh với giọng Mỹ, cứ ngỡ là dân Anh cũng nói như Mỹ. Ở đây thầy nói tiếng Anh chuẩn rất rõ và không có giọng mũi nhưng mặt thằng học trò Việt Nam thì cứ ngớ ra.

Khu tôi ở chỉ có vài gia đình Việt Nam, nhưng qua những lần nói chuyện thì biết rằng mục đích cuộc trốn chạy của họ chỉ là thoát khỏi sự khốn cùng và lý tưởng không ngoài việc ăn uống bài bạc. Lúc đầu tôi rất ngỡ ngàng nhưng sau những lần nói chuyện, tôi tách rời nhóm người này.

Trần Thanh Sơn, cám ơn người bạn hiền nối khố, ở cùng giường, chia nhau từng giọt mồ hôi, từng hơi thở nặng nề trong sáu tuần Tân Khóa Sinh,là đầu cầu liên lạc duy nhất của tôi với bạn bè. Lúc ấy Sơn đang ở Mỹ . Những bức thư của Sơn là những niềm an ủi trong tận cùng của sự cô đơn. Tôi được thư Sơn trước lúc vượt biên, khi ở Hương Cảng, qua trại chuyển tiếp và đến bây giờ. Qua Sơn, tôi được biết lúc ấy, bè bạn niên trưởng chỉ có dăm ba người đang tìm nhau thành lập Hội Ái Hữu. Điều cảm động nhất là trong ngày cưới của tôi Sơn, Võ Trúc Lâm và một số anh em tiền phong của Hội Ái Hữu đã gởi cho tôi một mẫu tin chia vui về đám cưới của vợ chồng tôi đăng trên một tờ báo Việt Nam ở California.

Đến năm 1986, cuộc đời tôi bước qua một ngã rẽ mới sau những đêm rửa chén mệt mề ở tiệm Tàu và khuân vác cho mấy tiệm ăn Ấn Độ trong phố.Tôi xin làm việc cho Save The Children Fund, một hội từ thiện lo cho trẻ em Tị Nạn Việt Nam. Công việc này đòi hỏi tôi phải trực tiếp ở trong Trung Tâm.Tôi phải từ giã vợ và đứa con trai mới sinh về Luân Đôn làm việc. Tôi trực 10 ngày và được nghỉ 3 ngày.Trong 3 nghỉ quý giá này tôi có cảm tưởng như lính đi hành quân được phép về thăm nhà.Làm cha của đứa con đầu đời đã gặp đủ trăm ngàn khó khăn với những đêm thức trắng khi con bịnh hoạn, ốm đau. Làm House Father cho các trẻ em Việt Nam không cha mẹ thì có triệu lần vất vả. Đám con nít đủ mọi thành phần,được chu cấp quá đầy đủ nên đâm ra ỷ lại và hư đốn vô cùng. Công việc thì tạm gọi là nhàn nhã về chân tay nhưng rất căng thẳng về tinh thần vì đám trẻ không phải là con ruột của mình nên rất khó dạy dỗ và chúng biết rằng nhân viên không la mắng gì được. Trong thời gian này, tình cờ tôi gặp được một niên trưởng Khóa 2. Đây là thời kỳ hạnh phúc nhất . Những hàn huyên tâm sự, những bữa nhậu cuối tuần đã làm ấm lòng hai kẻ sĩ trên bước đường biệt xứ. Một thời gian sau niên trưởng Thiện “ đuổi Mỹ đến cùng “ để lại mình tôi đóng chốt trên mặt trận miền Tây.
Sau gần 3 năm tôi chuyển qua phục vụ dưới trướng Nữ Hoàng Anh hay đúng hơn là Bưu Điện Hoàng Gia Anh ( Royal Mail ).Sáu tháng đầu ở Bưu Điện là thời kỳ khủng hoảng cho cả gia đình. Tôi bắt đầu đi đưa thư thì Công Đoàn xách động đình công. Ngày làm, ngày nghỉ. Trong 6 tháng, đi làm từ 4 giờ sáng đến 2 giờ trưa tiền lương đem về không đủ trang trải mọi chi tiêu trong gia đình. Ngưỡng cửa tương lai mịt mờ ngun ngút. Rất may, sau 6 tháng đạp xe đưa thư dưới trời mưa tuyết, cuộc đình công chấm dứt, đồng thời tôi được bổ nhiệm về làm cho phòng Thanh Tra Kiểm Phẩm. Cuộc đời từ đó đã có nhiều thay đổi. Công việc đã nhẹ nhàng, lương cao và overtime thì làm chết bỏ, Cứ tà tà hàng ngày từ 6 giờ sáng dến 10 giờ tối cầm sổ rình bắt mấy tay làm việc bôi bác để đưa ra hội đồng kỷ luật.
Tuy bận bịu với công việc nhưng lúc này có thể nói rằng gia đình tôi đã bắt đầu an cư lạc nghiệp, vợ chồng tôi tìm đến Cộng Đồng Việt Nam sinh hoạt và đóng góp với những gì mình có được.Với những kinh nghiệm học hỏi được ở Trường Mẹ và sự năng nổ, khéo léo của vợ tôi, chúng tôi đã tổ chức được một đêm Văn Hóa Việt Nam và bốn cái Tết truyền thống với đầy đủ ca vũ nhạc kịch và hội trường được trang trí đầy màu sắc Nguyễn Trãi. Rất tiếc, cuộc vui nào cũng có lúc tàn. Sự thành công của chúng tôi đem đến cho Cộng Đồng Việt Nam không gặt hái được những lời lẽ khích lệ mà trái lại nhận được sự chỉ trích, phê bình đến độ phi lý đã làm vợ chồng tôi phải từ bỏ Cộng Đồng. Hy vọng một ngày nào đó tất cả mọi người nhất là những thế hệ đi trước biết dẹp bỏ những tự hào cá nhân, xiết chặt tay nhau để xây dựng Cộng Đồng và giáo dục cho thế hệ thứ hai có một chính nghĩa.

Hai mươi ba năm nhìn lại, là cả một cuộc đổi đời, riêng đối với tôi sự đổi đời của tôi đã khác rất nhiều so với các bạn cùng khóa ở hải ngoại. Nước Anh, dưới cái nhìn của người tị nạn Việt Nam thì ai có số không may mới định cư ở quốc gia này. Sự không may này được định nghĩa là một quốc gia không có những tòa nhà chọc trời ngun ngút, không có những tráng lệ, huy hoàng. Và tôi có lẽ là một trong những người có tự do nhưng thiếu may mắn.

Hai mươi ba năm sau, cái nhìn về nước Anh của tôi cũng đã có nhiều thay đổi. Dân Anh rất tồn cổ và có tính khôi hài. Mỗi ngôi nhà, mỗi góc phố đều có lịch sử. Có ở lâu mới thấy được cái đẹp của thiên nhiên và sự cổ kính của quốc gia này. Câu nói “ Phớt tỉnh như người Ăng Lê “ đã làm người Anh nổi tiếng thế giới, có lẽ vì họ đã khôi hài hóa tất cả mọi chuyện xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Dân Anh cũng như dân Việt, Mỹ ,Úc hoặc các giống dân khác. Có người tốt, người xấu, người kỳ thị, người ganh ghét. Đã là con người thì ai cũng giống nhau . Cũng như quốc gia nào cũng có đầy dẫy ưu và khuyết điểm.Xã hội ở đây khuyến khích mọi người làm việc vừa phải để có thì giờ nghỉ ngơi. Có thể vì thế nên khi đã an cư lạc nghiệp thì tôi không muốn vượt biên lần nữa.

Cuộc hành trình của tôi, nếu so sánh với các bạn bè khác thì có lẽ chỉ là một cuộc hành trình đơn giản. Điều tôi muốn tâm sự ở đây là chúng tôi đã bước đi trong sự cô đơn cùng cực. Không bạn bè, người thân, không anh em, họ hàng. Đồng hương thì có đó nhưng 23 năm nay tôi chưa tìm được một cố tri. Lắm lúc thèm có một bạn hiền cụng một ly rượu cuối tuần cho quên đời viễn xứ mà làm sao có được. Lắm lúc tưởng đã bỏ cuộc.Nhưng thôi, hãy nhìn lại ngày hôm nay, tôi đã thành công và quá may mắn. Tôi phải cám ơn người vợ và hai đứa con yêu quý của tôi đã cùng đi và chia sẽ những nhọc nhằn trong cuộc sống. Những bữa ăn gia đình, vợ và hai con tôi đã cùng sống với tôi trong những câu chuyện về Đà Lạt, về trường Mẹ, về đời lính. Những tiếng cười rộn ràng cùng những lời an ủi của vợ và con đã làm cuộc sống của tôi có thêm nhiều ý nghĩa.

Ba mươi năm trước, trên ngọn đồi lộng gió, hơn hai trăm Nguyễn Trãi 4 đã quỳ xuống với những lời thề dậy lửa mặt trời. Ba mươi năm sau, mỗi cuộc đời là mỗi nhánh sông trôi. Những sáng tuyết, chiều sương, những nhọc nhằn cơ khổ nơi xứ người tưởng chừng như phải tan hàng lần nữa trước định mệnh . Xin cám ơn các nàng dâu, các hậu duệ Nguyễn Trãi đã cho ta hạnh phúc. Xin cám ơn trường Mẹ đã hun đúc cho ta niềm tin dũng sĩ.Tôi muốn cám ơn đời đã dành cho chúng ta một chỗ đứng. Cám ơn những quê hương thứ hai đã cho chúng ta cơ hội để ngước mặt nhìn lại cuộc đời.

Tôi chợt nhớ đến bạn bè, những ai còn ai mất. Đứa nằm xuống vào giờ phút cuối cùng của cuộc chiến. Đứa chết trong bệnh hoạn lao tù. Đứa chết trẻ bên lề xã hội. Những đứa sống sót vẫn còn tiếp tục những cuộc hành trình cay đắng trong âm thầm, lặng lẽ bên quê nhà, có còn ai biết đến…

Dương Đức Tân
Đại Đội C
Tiểu Đoàn 2

 

 !  SVSQ CTCT DALAT

Ipsum

 

 

 

 

 

 

 

 

BẠN BÈ THÂN YÊU ƠI!
sáng tác VDK

 

 

Một ngày nào trên quê hương xưa .Bạn bè tôi chung lời ước thề. Hẹn lòng rằng xông pha biên cương. Chí tang bồng chẳng nề gió sương.

Nào ngờ rằng quê hương điêu linh. Đàn chim xưa tan tác tội tình. Ngày họp mặt hôm nay nơi đây.Bạn bè tôi đếm được bao người.

Thằng tử trận khi chưa đeo lon. Thằng vượt biên thân xác không con. Thằng tù đày không ai chôn thây. Và nhũng đứa chết trong héo gầy .

Bạn bè hởi, biết bao tâm tư. Đến mai sau cũng chẳng xóa mờ. Đoạn trường đã biết bao gian truân. Cuộc đời ta nhục vinh mấy lần.

Tình  bằng hữu nhớ khi năm xưa. Trên đồi thông chung một bóng cờ .Chủ nhậtt dạo phố, những đêm tâm giao, giảng đường xưa, đọan đường chiến binh nào.

Người ở lại quê hương lao đao, người ra đi đến tận phương nào. Cuộc hành trình chưa nơi yên vui.Bạn bè tôi tóc bạc phai roi. Nhìn lại mình bao nhieu long đong, nhìn về quê hương nước mắt lưng tròng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sinh Viên Sĩ Quan

Đại Học CTCT

Đà Lạt