Làm Dâu Nguyễn Trãi.

 

*Thân tặng các anh chị, mới gặp mà như đã quen nhau.

Vừa mới lớn tôi đã vội vàng yêu (có lẽ là bị dụ!), thế rồi tôi ngây thơ, dại khờ đem gông vào cổ khi mùi đời chưa kịp nếm. Đúng ra, tôi cũng không nên than thở vì phải nói rằng tôi có phước. Anh chồng của tôi không những vui tính mà còn “dễ bảo” và rất yêu tôi. Anh thuộc loại chồng...hiền. Không yêu tôi thì làm sao được vì đàn bà bên Anh thuộc loại hiếm quý, đứng hàng đầu của bảng phong thần...trên chó rồi mới đến đàn ông.

Phước đức lớn nhất là tôi chưa được làm dâu một ngày nào cả. Ngày xưa nghe mẹ kể: khi về làm dâu rất khổ, trần ai lắm và lúc nào cũng đầy nước mắt! Nhất là làm dâu Huế! Một thưa hai bẩm, đi đứng phải nhẹ nhàng, thanh thoát không thì bị xỏ xiên. Tam tòng tứ đức phải vẹn toàn. Làm dâu chỉ là một bức tranh để cho bên chồng chê khen, bình phẩm chứ không phải để thưởng thức. Nhưng đoạn trường hơn hết là làm dâu cho mấy mụ O bên chồng.

Nhớ những lời của mẹ ngày nào, tôi có một thoáng băn khoăn khi bước chân đến Cali để về làm dâu Nguyễn Trãi Bốn -gặp mấy “mụ O” và mấy “Ôn” bên chồng. Một nàng dâu mới từ quê ra tỉnh, một lính mới chưa hề biết binh lửa- biết bao điều tôi phải lo âu. Chồng tôi đã “răn dạy” bao ngày qua -làm sao đừng để chúng bạn cười chê- rằng ... có mấy “Ôn” hơi khó tính (nhất là mấy "Ôn" dự định nhổ bốn cái răng cửa), rằng... anh không dạy vợ. Thật vậy, chồng tôi đã nhắc nhở vạn lần, “ không dễ gì làm dâu Nguyễn Trãi đâu em!”

Nhưng làm sao anh chị nào có thể chê trách tôi được. Tôi đâu còn những ngày ương ngạnh từ chối lời khuyên quý báu của mẹ -tập cơm, tập nước, tập làm người lớn- để người đời khỏi khinh chê; tôi đâu còn “bảo” anh chồng tôi nấu cơm cho tôi ăn; tôi đâu còn nũng nịu rầy anh, “anh nấu theo kiểu tù cải tạo, cơm rau cháo mắm cùng vô một nồi, em nuốt sao trôi!”; tôi đã biết ăn nói dịu dàng- chồng gọi, em vâng, chồng kêu, em phải dạ-.Tôi đã trở thành một người đàn bà ... “hoàn chỉnh” trong công dung ngôn hạnh -một mẫu người đàn bà lý tưởng mà chồng tôi đã bỏ bao năm “dạy dỗ”-.... Như người xưa đã nói, “...dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về!”.

Tôi giỏi thật!. Ngày nào chồng tôi còn bảo, có cơm ăn là phước lắm rồi cần gì phải ngon mà bây giờ tôi đã trở thành một nhà bào chế danh tiếng: tôi lấy mì Ý làm bánh canh, lấy anchovy sauce (một loại sốt cá của Anh) làm mắm nêm chấm với thịt bò nhúng bia. Rất sành điệu! Bạn bè người Anh mỗi lần đến nhà chúng tôi ăn tối, họ ăn cơm chiên trứng, mì vàng xào giá và thịt heo, khen rối rít. Nhưng mẹ tôi và các bạn Việt thì có một sự im lặng hơi khó hiểu.

Một buổi chiều khi tôi ở nhà anh chị Thái, chị Tuyết ân cần hỏi tôi: “Ngày mai nấu canh ngót với sườn, ngon lắm”. Tôi thắc mắc, không biết cây rau ngót mặt mũi thế nào, nhưng không dám hỏi vì sợ bị chê là: “dân nhà quê”. Cũng may chị Thái không nhờ tôi cắt rau ngót, nếu không đã bị lộ tẩy... Tôi mừng khôn xiết khi chị nhờ cắt xoài -cứ ngỡ sẽ được ăn xoài sống chấm mắm đường là món tôi đã đam mê từ thời nữ sinh áo trắng- trái lại, chị cho ăn cá thu chiên giòn chấm nước mắm kèm với xoài sống thái nhỏ, tuyệt vời làm sao!. Ở Luân Đôn làm gì có cá thu mà ăn nói chi đến xoài sống!. Cùng với món canh ngót mà tôi chưa hề được thưởng thức, tôi ngấu nghiến luôn hai chén cơm mà vẫn chưa hết thòm thèm. Nơi tôi ở, người Việt không có thì tìm thức ăn Việt Nam còn hơn xuống biển mò kim.

 

 

Cứ tự hào là tài nấu nướng của tôi có một không hai (bởi vì có ai nấu được những món ăn sáng chế như tôi đâu) nhưng tôi hơi lầm một tí! Có bao giờ tôi biết làm bê thui và nấu bò kho!. Phong cách nội trợ cuả chị Phương (vợ của anh Tổng Tư Lịnh Khóa 4), không thua gì những tay đầu bếp trứ danh của các tiệm ăn nổi tiếng ở Luân Đôn. Hương vị của những giọt nước mắm gừng và thịt bê thui như còn mặn mà trên đầu lưỡi tôi. Mùi thơm của bò kho quyến rũ làm sao!. Chị vừa mới đi làm về thế mà chỉ trong thoáng chốc, như một sự mầu nhiệm, tất cả những món ăn ngon lành đều được sắp xếp tràn đầy trên bàn. Với một giọng nói thật nhẹ nhàng, dễ mến, chị ân cần thăm hỏi không sót một ai.

Khi đến nhà anh Tâm, tôi thấy anh ấy thật có phước hơn anh chồng tôi nhiều. Chị Oanh đã làm cho cái tự hào.....hão của tôi dần dần tan biến vào hư không. Chị thật đảm đang. Các món ăn chị nấu không những rất đặc sắc mà còn trình bày thật thẩm mỹ và khéo léo. Mặc dù đã no cứng với những dĩa bánh bèo Huế của chị Tuyết, tôi không ngần ngại ăn liền 3 trái ớt Mễ độn chả cá; húp một loạt mấy chén canh bầu độn thịt và gần cả chục cái cánh gà chiên giòn chấm một loại nước chấm độc đáo mà chị ấy “dấu kỹ” công thức. Chỉ có mấy ngày mà tôi cảm thấy sao mình được cưng chiều đến thế!

 

 

Lên San Francisco, tôi có cảm tưởng như được trở về thăm lại miền trung nước Việt. Tô bún bò của anh Chính và những miếng chả Huế rất ân tình của chị Hà, hiền thê anh Huê, ngập đầy màu ớt đỏ-màu đỏ của hoa phượng vĩ nở trong những ngày hè êm ả của đất Thần Kinh. Đâu đó tiếng chuông Thiên Mụ giọt vắn, giọt dài hòa lẫn với những tiếng thì thầm tình tự của giòng sông Hương thơ mộng. Bên cầu Golden Gate, với giọng hò của anh Chính, giọng Huế ngọt ngào của anh Huê, tôi cứ ngỡ như mình đang đếm từng vài, từng nhịp của cầu Tràng Tiền. Cùng với vợ chồng anh Tuấn và Long dạo phố, uống cà phê ở Fishman's Wharf, nhắc lại những mẫu chuyện xưa, làm tôi bồi hồi như đang đi giữa chợ Đông Ba.

Những sợi mì vàng rất đặc biệt của xứ Quảng do chị Tuấn khóa 6 khoản đãi, với mấy con tôm vàng ngậy, tươi ngọt ăn cùng với rau chua xanh dòn đã đưa tôi về Hội An thăm quê của chị ấy trong chốc lát. Ngôi Chùa Cầu với những mái nhà rêu phong cổ kính, có những con đường lót đá nhỏ hẹp, đi qua những dãy phố xưa; đưa tôi ra bãi biển Cửa Đại, có tiếng sóng nhẹ êm đềm-trên bãi cát trắng mịn màng còn in rõ dấu chân luân vũ của một cặp tình nhân nào đó dưới bóng mờ hoàng hôn.

Cái vụng về và tài nội trợ của tôi đã không vượt qua đôi mắt từng trải, đầy kinh nghiệm của chị Thủy, vợ anh Thạc. Chị đã kiên nhẫn “huấn luyện” tôi cắt những miếng thịt heo thật mỏng như tờ giấy và sắp đều như những anh sinh viên sĩ quan đi thao diễn; làm sao hòa ruốc cho đậm đầy mùi quê hương; hầm nước lèo bún rêu thì phải nhiều xương và phải nấu trước một đêm để cho nước đậm đà; thịt nướng thì phải ướp dầu hào mới đúng điệu. Chao ôi !. Tôi như đang sống trong đam mê, trong cảm phục. Tôi hỏi chị cả ngàn câu hỏi mà dường như vẫn chưa đủ.

Có một tí gì tương tư cho những ngày rất vui, rất đẹp, rất thần tiên của cuối tháng Năm ấy!. Về lại Luân Đôn thấy lòng như bâng khuâng, trống vắng. Những mẫu chuyện vui, chuyện phòng the thú vị các chị đã kể, “ Hai giờ đêm anh ấy đi làm về, tôi vẫn dậy cùng anh uống chung ly rượu ái ân, cùng nhau chia một viên thuốc.....màu da trời?. Anh một nửa, phần còn lại của em!” Nhớ những buổi gặp nhau đầy kỷ niệm với nhiều người bạn mới quen nhưng rất thân thiết, đã hằn sâu trong ký ức của tôi. Nhớ buổi tối thật khuya ấy, vợ anh Mai (Dù)- nghe nói anh đi lính.....dù -xin lỗi tôi không nói lái và được văn hoa phong phú như anh Khang!- cho tôi thưởng thức món bánh da lợn thơm phức mùi lá dứa. Nhớ buổi sáng các anh chị dẫn đi uống cà phê Dĩ Vãng, rộn ràng trong những tiếng cười đùa chọc ghẹo. Làm sao tôi quên được tô mì vịt và dĩa bánh cuốn thơm lừng của những buổi sáng điểm tâm cùng anh Sơn Đầu Bạc (nhưng đã nhuộm rồi!).

Hình ảnh của đêm cuối cùng như còn để lại trong tôi nhiều rung động. Từng tiếng nói, tiếng cười với những mẫu chuyện tiếu lâm hấp dẫn của anh Thạc trộn lẫn với mấy câu chửi thề đậm nghĩa bạn bè. Tôi nhấm nháp mấy miếng tré Huế của anh Đạt Cận làm tặng riêng cho anh em, một đặc sản của miền trung mà lâu lắm tôi mới có dịp nếm lại. Những cái bánh bèo, bánh nậm, bánh bột lọc các anh chị cho vợ chồng tôi thưởng thức, sao tình nghĩa vô cùng. Còn bao công trình của vợ chồng anh Hùng Vô Vi đã làm tôi rươm rướm nước mắt cảm động khi nói lời tạm biệt. Những tấm hình vô giá đã gói ghém yêu thương cho anh em làm sao mà quên được!.

 

 

Ngôn từ nào có thể diễn tả hết những chân tình của các anh, các chị đã dành cho tôi-đã cho tôi cái vinh hạnh làm người dâu mới. Tôi không phải như một bức tranh mà mẹ tôi ngày nào kể. Tôi đã không còn lo âu vì các O, các Ôn thật vui, tiếu lâm và dễ thương quá. Kết luận của tôi là: làm dâu Nguyễn Trãi không khó tí nào bởi vì có anh đã từng tâm sự: “Tao không còn ca hát từ ngày đi tù 'chung thân' ”, “ Vợ bắt ăn thì ăn, vợ bảo ngủ thì ngủ!”, “Bà xã tao thường dặn tao làm bố phải làm gương cho con noi theo. Tao hỏi làm gương là làm siêu? Bà đáp chỉ cần làm theo lời tôi bảo là được!.” Có một anh phát biểu: “Đàn ông mình ở bên nầy như những con cừu.”. Thấy thương làm sao!. Xưa nay cứ nghĩ là tôi bị đeo gông. Cám ơn các bà chị đã theo gương bà Trưng, bà Triệu. Thảo nào anh Ngữ, có mắt tinh đời, đã cho tôi tước vị Nữ Hoàng trước khi phong chức hiệp sĩ cho anh ấy.

Thoảng nghe đâu đó anh chồng tôi đang hát bài “ Tôi đã lầm đưa em sang đây!”.

Dương Ngọc Ánh

(Nàng Dâu Nguyễn Trãi 4)


 

 

 

 

 


Email : ctctkhoa4@yahoo.com